NƯƠNG SẮN CÁCH MẠNG
Nguyễn Thị Yến Thu
Sau năm 1975, những ngày tháng Tư luôn tưng bừng, náo nhiệt. Thành phố Hồ Chí Minh, cả nước, khắp nơi có nhiều hoạt động kỷ niệm ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Chúng tôi, những cán bộ giáo dục, hơn hai trăm người đã vượt Trường Sơn về Nam công tác, chiến đấu, góp một phần công sức rất nhỏ của mình vào ngày đáng ghi nhớ đó. Dịp này chúng tôi thường gặp gỡ nhau, thăm hỏi, vui chơi, ôn lại những kỷ niệm của một thời đã qua và sống mãi. Để có chiến thắng lịch sử 30/4 cả nước đã góp rất nhiều nhân tài vật lực, có biết bao sự hy sinh, cống hiến có tiếng cũng như thầm lặng. Mọi đóng góp lớn nhỏ của chúng tôi đều có nghe, có thấy, có đọc ở mọi lĩnh vực. Nhưng có một chi tiết này rất nhỏ, rất hay, rất đáng nhớ, cần phải nói cho nhiều người biết nhưng thấy ít tài liệu nhắc nhở, đề cập đến.
Ai đã từng vượt Trường Sơn ra Bắc, vào Nam đều không thể quên. Đó là “Nương sắn cách mạng” cụm từ này sau giải phóng không còn sử dụng nữa. Nhưng thời chống Mỹ cụm từ này chỉ sự đóng góp không nhỏ cho cách mạng của đồng bào dân tộc ít người ở miền Trung, Tây Nguyên. Ngày ấy chúng tôi còn rất trẻ, hầu hết tuổi mới trên hai mươi, một số tốt nghiệp đại học mới ra trường đã tình nguyện về Nam công tác. Bắc có, Nam có, Nam nhiều hơn Bắc nhưng chúng tôi đoàn kết, thương yêu nhau hết lòng, cùng một lý tưởng được về Nam, cùng nhân dân miền Nam chống Mỹ cứu nước.
Rời ghế nhà trường, khoác ba lô vượt Trường Sơn lòng thanh thản, trong sáng, không suy tính thiệt hơn, không sợ hy sinh gian khổ. Chỉ hơi ngơ ngác một chút xíu vì môi trường sống thay đổi quá đột ngột. Chúng tôi cùng nương tựa vào nhau thành một tập thể có sức mạnh trí óc, tuổi trẻ, lý tưởng, từ từ hoà nhập cuộc sống Trường Sơn nhanh chóng. Ngày ấy, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Ngữ văn, tôi đi ngày, tối lại đều viết nhật ký. Những địa danh ở miền Bắc thì chúng tôi biết cả. Song khi vượt biên giới sang Lào, từ đó qua vùng nào cũng vậy, để bảo mật nên địa danh đi qua thường được giữ kín. Nên bây giờ nhắc đến “Nương sắn cách mạng” tôi cũng không biết cụ thể nó là nơi nào, chỉ biết “Nương sắn cách mạng” nằm ở miền Trung, Tây Nguyên.
“Nương sắn cách mạng” đã có từ lâu. Sau ngày Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam ra đời. Đây là chủ trương sáng suốt của cách mạng Việt Nam. Lãnh đạo địa phương Tây Nguyên phát động, đồng bào dân tộc ít người ở đây đã bỏ công sức ra trồng. Nương sắn lớn dần lên và phát triển ngày càng theo sự lớn mạnh của cách mạng Việt Nam, phong trào chống Mỹ cứu nước của quân dân ta.
Suốt bao ngày lặn lội, mờ sáng ba lô lên vai, trèo đèo, vượt suối, né tránh bom đạn, biệt kích, tối mịt mới đến trạm, nghỉ ngơi, tắm giặt, cơm nước. Cơm chỉ ăn với nước mắm cô nấu loãng ra, thêm tí bột ngọt, chấm với đủ thứ rau rừng tìm thấy trên dọc đường hành quân: môn dốc, tàu bay, lá bứa, lá két, móng bò, lá bép. Lá bép là loại rau rừng ngon nhất trong các loại rau rừng. Đã có nhiều trạm đáng lý phải được lãnh gạo mà tiếp tế chưa kịp, đoàn phải nghỉ lại chờ lãnh gạo. Những ngày đó chỉ ăn cháo rau rừng. Đang trẻ, ăn thiếu gạo, thiếu thức ăn nên lúc nào cũng có cảm giác đói. Lắm lúc đi lãnh gạo không có. Trên đường về trời nắng chang chang, vừa đói, vừa khát thấy bóng cây kơ nia (cây cầy) chúng tôi vào đó nghỉ, lượm hạt kơ nia (giống hạt bàng) ăn cho đỡ đói. Cùng nhau nhắc những món ăn thời sinh viên: đậu hủ kho, rau muống luộc cũng sẽ rất ngon nếu lúc đó có. Những món ăn của từng gia đình, cái nào cũng đơn giản nhưng ngon biết bao. Tuy đói tuy khát nhưng sao vẫn vui. Tất cả đều kể chuyện cười đùa, không tìm thấy bộ mặt nào âu sầu, buồn nãn. Thật kỳ diệu sao! Tuổi trẻ thế hệ Bác Hồ.
Một hôm đang hành quân chúng tôi gặp một đoàn cán bộ, quân đội, dũng sĩ diệt Mỹ từ miền Nam vượt Trường Sơn ra Bắc. Trên đường hành quân hễ gặp nhau như đã đã quen thân tự bao giờ. Đây lại là đoàn miền Nam nữa. Ngồi giải lao chúng tôi hỏi xem các anh, chị em quê ở nơi nào? Cũng có vài anh chị gặp được người cùng quê, bà con. Thật sự mừng rỡ và cùng mở cơm ra ăn với nhau. Thức ăn của các đơn vị hành quân trên Trường Sơn gần giống như nhau. Nhưng của đoàn từ miền Nam ra Bắc thật phong phú, ai cũng có rất nhiều sắn luộc, sắn nướng, sắn trộn cơm. Các đồng chí miền Nam chia cho chúng tôi mỗi người một củ sắn. Ôi! Giữa rừng Trường Sơn đại ngàn mà có sắn ăn, nhằm lúc quá thiếu, đói, thật ngon hơn sơn hào hải vị. Các đồng chi cho chúng tôi biết mới vừa đi qua “Nương sắn cách mạng”.
Sau đó chúng tôi hành quân như nhẹ nhàng, phấn khởi hơn. Vì vừa đi, tôi vừa suy nghĩ sao giữa rừng Trường Sơn lại có “Nương sắn cách mạng”. Thế này? Nó chừng bao lớn? Nó như thế nào? “Nương sắn cách mạng” thu hút đoàn quân dồn bước hơn. “Nương sắn cách mạng” làm nhiệm vụ hậu cần tại chỗ, tiếp tế lương thực thật nhanh, thật năng động. Đây là hình thức tiếp tế sáng tạo chỉ có Việt Nam mới có.
Chiều hôm đó trước khi về đến trạm giao liên, tắm giặt, nấu cơm, nghỉ ngơi. Giao liên phổ biến cho toàn đoàn chúng ta đã đến “Nương sắn cách mạng”, rồi cả đoàn phấn khởi. Các đồng chí mỗi tổ ba người cử một người đi lấy sắn. Quy định, cứ nhổ một gốc sắn, thì phải chặt mười hom sắn khác cắm xuống. Nhờ nguyên tắc này và ai cũng chấp hành thật nghiêm túc mà “Nương sắn cách mạng” đã cung cấp cho biết bao đoàn quân của ta kẻ vào người ra đều có sắn ăn từ năm này sang năm khác.
“Nương sắn cách mạng” là khu rừng chồi rất lớn. Sắn chen trong cây rừng khắp nơi đều có sắn. Chúng tôi dùng tay nhổ sắn, sắn lâu năm. Cây thật to, củ thật lớn nhưng nhổ rất dễ. Chỉ nhổ chừng chưa đến nửa giờ ai cũng có hơn hai chục ký. Thiếu kinh nghiệm chúng tôi toàn nhổ cây sắn to, củ to. Sau này, một phần không ít anh chị em bị ngộ độc sắn. Ăn nhiều sắn bị ói nữa, không tiêu. Rút kinh nghiệm, khi nấu ăn chúng tôi phải ngâm sắn dưới suối một thời gian.
Dù luật không thành văn bản nhưng ai đến “Nương sắn cách mạng” nhổ sắn sắn đều chặt đủ mười hom, đào lỗ trồng lại nghiêm túc. Mang sắn về khệ nệ, ai cũng phấn khởi. Tối đó, cả đoàn ăn sắn trừ cơm. Sắn giữa rừng Trường Sơn ngon thật là ngon. Thôi thì mạnh ai nấy chế biến theo sở thích, thành đủ loại thức ăn. Sắn luộc, sắn nướng, sắn trộn cơm, canh sắn. Cao cấp nhất là sắn mài ra làm bánh, chúng tôi mang sắn theo ăn được cả tuần. “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây”. Đó là đạo lý của người Việt Nam. Qua tìm hiểu, tôi biết “Nương sắn cách mạng” do chính đồng bào dân tộc ít người ở đây nghe theo cách mạng trồng nương sắn này để nuôi quân đánh Mỹ. Vậy mà có những năm đồng bào gặp khó khăn, thiếu đói, mọi người cũng không ai nhổ sắn đó để ăn. Ai cũng nghĩ “Nương sắn cách mạng” là chỉ để giành cho số cán bộ, bộ đội tham gia chống Mỹ đi Trường Sơn. Nghĩ đến đó lòng tôi rung động lạ thường. Đồng bào ta vùng núi, trong kháng chiến quá nghèo khó, cực nhọc mà vẫn hết lòng vì cách mạng. Sự giác ngộ của đồng bào quá cao. Có chứng kiến cảnh của các đoàn dân công của đồng bào dân tộc ít người ở Tây Nguyên đi gùi đạn, chúng tôi mới thấy đi Trường Sơn như chúng tôi còn quá nhẹ nhàng.
Sự thành công của cách mạng Việt Nam trong đó có nhiều sự đóng góp của đồng bào dân tộc. Ngày nay tuy Đảng và Chính phủ có nhiều chính sách để đưa sự phát triển của đồng bào dân tộc ít người theo kịp cả nước. Nhưng có nhiều nơi cán bộ chưa đáp ứng được. Tiếc thay!
Ngày nay sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ôn lại chuyện vượt Trường Sơn, chuyện về “Nương sắn cách mạng” tưởng nhỏ mà không nhỏ. Chủ trương trồng “Nương sắn cách mạng” cùng những người đã trồng “Nương sắn cách mạng” theo tôi đều đáng được huân chương cao quý nhất. Nhưng có lẽ công việc kiến quốc lâu này quá bộn bề, lại thời mở cửa lắm cái hay, cũng không ít cái dở nên chựng về “Nương sắn cách mạng”. Và những con người tạo ra nó cũng dần dần đi vào quên lãng.
Là một đã từng một lần được thụ hưởng giá trị đích thực của “Nương sắn cách mạng”, nhân những ngày tháng Tư đáng nhớ này xin được viết đôi dòng tri ân nhưng con người đã làm nên “Nương sắn cách mạng”.
Nguyễn Thị Yến Thu