TRÍCH KÝ ỨC MỘT THỜI HOA LỬA

BÊN CÁNH RỪNG - Đặng Đức Thưởng

KÝ ỨC NHÀ GIÁO B2 - Nguyễn Đức Mạnh

NGƯỜI ĐI BỘ CUỐI CÙNG ĐẾN TIỂU BAN GIÁO DỤC R - Trần Quốc Côn

BÊN CÁNH RỪNG

Đặng Đức Thưởng

Ở Đường Long, bên cánh rừng Cầu Xéo thuộc xã Thanh Tuyền huyện Bến Cát, Bình Dương, thời chiến, ai qua đó cũng thấy lù lù bên đường xác một chiếc xe tăng to tướng.

Nó nằm đó từ bao giờ, ai hạ gục nó thì cũng chưa được biết đích xác. Chắc cũng lâu rồi, vì sắt thép đã hoen rỉ, cả khẩu pháo nòng dài ngoẵng ở phía trước, giờ cũng mốc meo, nom thiểu não, không còn hùng hổ như trước nữa, cái thùng xe trống rỗng, chứa đầy lá mục. Nó nằm im lìm, cô đơn và trở thành vật chứng cho cuộc chiến, để nhắc nhở kẻ thù: đừng tưởng cứ ỷ vào sắt thép mà có thể đe dọa được cây rừng ở vùng này.

Cũng bên mép rừng Đường Long gần Cầu Xéo này, từ giữa năm 1969, có một ngôi mộ mới đắp. Đó là ngôi mộ cạn, tức là mộ chôn không đào huyệt. Cứ để khơi mà đắp đất lên thành mộ. Ngôi mộ không có lọ cắm nhang, vì thời chiến, dễ gì lấy nhang ở đâu ra mà đốt. Chỉ có hoa, hoa rừng từng bó hoặc cành, được anh em, đồng chí trong đơn vị ra thăm, rải lên đó.

Đó là ngôi mộ chị Ba Phương, Cán bộ giáo dục của khu Sài Gòn – Gia Định (T4). Chị hy sinh vì đụng biệt kích Mỹ ở đó, trong dịp cùng anh em cán bộ Tuyên huấn T4 đi ra Bến Chùa học nghị quyết mới.

Bọn biệt kích Mỹ do máy bay trực thăng thả xuống đã nằm phục ở đây mấy ngày rồi. Chiều hôm đó, đoàn cán bộ này vừa trờ tới. Chúng để cho đoàn đi vào giữa trận địa phục kích của chúng rồi mới giật mìn Mo (Claymor), xả súng tiểu liên, M79 vào đoàn. Chị Ba Phương trúng đạn, hy sinh ngay từ lúc đầu. Chúng ghìm bên xác chị, gài lựu đạn xuống lưng và đặt xác chị nằm ngửa để tiếp tục rình mò đánh tiếp khi anh em ra lấy xác.

Du kích cơ quan đã mấy lần ra bám, thấy địch vẫn phục kích, nên chưa dám ra lấy xác. Đợi cho mấy ngày xác sình lên, chúng mới rút. Lúc đó, anh em bám trận địa mới rút về báo cơ quan tổ chức ra mai táng chị.

Họa sĩ Ba Phến (Trình Thanh Bình) trong tốp đi mai táng đã về kể lại với tôi như sau:

Lúc tốp mai táng ra tới nơi thì xác chị đã sình lên, hôi lắm. Và lại nghe nói chúng có gài lựu đạn dưới thân chị, nên anh em không dám đưa chị xuống, cứ để vậy mà đắp mộ.

Anh em chia bốn người, cầm bốn góc đầu chiếc tăng nylon chạy ào tới. Ai lúc đó cũng thoa dầu đậu phộng vào mũi, mà mùi hôi vẫn xộc tới tận óc. Đắp tấm tăng cho chị xong, chúng tôi đào đất đắp lên thành mộ. Xong kiếm đá ong viền xung quanh ngôi mộ để đất khỏi lở, trôi đi khi mưa xuống. Đắp xong mộ, chúng tôi đi kiếm hoa rừng về cắm quanh mộ. Rồi tất cả đứng sắp hàng trước mộ, bắn một loạt súng lên trời tiễn biệt chị.

Họa sĩ kể lại chi tiết như vậy, vì anh bảo anh làm như vậy để trả món nợ mấy năm trước chị đã lo mai táng vợ con anh sau trận bom Mỹ thả xuống An Phú, làm sập hầm chết vợ con anh. Hồi đó chị đang làm cán bộ giáo dục ở Củ Chi. Sau trận bom, chị tới tắm rửa, thay quần áo cho vợ con anh.

Cái tình nghĩa đó, hôm nay anh mới trả được. Nói xong, họa sĩ giọng buồn buồn:

- Bây giờ, mỗi dịp đi qua Cầu Xéo, tôi lại vào viếng mộ chị. Thấy lúc nào cũng có vài cành hoa rừng, làm mộ chị thật ấm áp, bớt lạnh lẽo.

*

Còn tôi, nhớ mãi lần chia tay cuối cùng với chị ở căn cứ Tà Leng. Bữa ấy, các cán bộ sơ cấp ở đây được lệnh ra căn cứ Bến Chùa để học nghị quyết mới. Bến Chùa là căn cứ ở xã Thanh An, thuộc Dầu Tiếng, cách căn cứ Tà Leng gần chục cây số. Dạo đó, tình hình chiến trường ở đây căng lắm. Ngoài B52 rải thảm ngày đêm, chúng còn bung biệt kích ra chặn mọi nẻo đường trong vùng căn cứ của ta. Vì vậy, tuy đường đi có mười cây số, nhưng đoàn tổ chức chuyến đi như ra trận, sẵn sàng gặp địch là đánh để đi.

Tôi mới đi công tác ở Trảng Bàng về. Về lại rừng, chứng sốt rét từ Trường Sơn lại quật lại. Mấy bữa nay bỏ cơm, chỉ húp cháo. Trưa nào tới cữ cũng nóng lạnh tới chiều mới dứt. Xong đầu nhức như búa bổ. Nằm trên võng dưới hầm, nghe nhiều tiếng chân đi lịch bịch, dẫm vào lá khô nổ lép bép ở trên, tôi biết anh chị em đang chuẩn bị lên đường ra Bến Chùa học nghị quyết, mà không ngóc đầu lên nổi. Trong cơn sốt chưa dứt, cứ lơ mơ, có tiếng chân bước xuống hầm, bước lại gần võng tôi đang nằm. Rồi một bàn tay êm ái, nhẹ nhàng đặt lên trán tôi, một giọng phụ nữ cất lên:

- Em trai, còn sốt, nóng lắm! Thôi, em cứ nằm nghỉ. Đoàn đi học nghị quyết về sẽ phổ biến lại sau.

Tôi biết đó là tiếng chị Ba Phương, nhưng không ngóc đầu lên nổi, chỉ dạ khẽ một tiếng rồi lại chìm vào cơn sốt lơ mơ. Rồi những tiếng chân ở trên cứ xa dần. Có lẽ trời sắp tối, nhìn lên cửa miệng hầm, chỉ thấy lờ mờ, tranh tối, tranh sáng. Lúc đó không gian trở nên yên tĩnh lạ thường, có phần hơi lạnh lẽo.

Bỗng nghe dội xuống hầm một tiếng nổ lớn. Sau đó là hàng loạt súng liên thanh, xen lẫn với tiếng súng AK nổ từng chập ngắn, rồi xa dần. Tôi giật mình choàng thức dậy, ngóc đầu lên xem hướng nào, thì đúng hướng Cầu Xéo, Đường Long, lối đoàn ta phải qua đó để ra Bến Chùa.

Đụng biệt kích Mỹ rồi! Tôi thoáng nghĩ vậy vì thấy hệt như cảnh cách đây mấy tháng, tôi và một số anh em đã từng đụng chúng ở cánh đồng Cà Tong. Nghĩ vậy, tôi bỗng thấy lo lo. Đoàn đi lần này khá đông, liệu có ai sao không? Thế là cơn sốt bỗng dứt hẳn, thì nỗi lo lại ùa tới làm tôi cứ bứt rứt không yên. Chừng một tiếng đồng hồ sau, trời tối hẳn thì nghe có nhiều tiếng lao xao, một số anh em đã trở về. Ai cũng hớt hải và cho biết: Đoàn tới Cầu Xéo ven rừng Đường Long thì đụng biệt kích Mỹ. Số đi đầu bắn trả được vài băng AK rồi dẫn tốp chạy vọt lên. Còn số đi giữa và phía sau bị biệt kích đánh trúng, vì chúng đợi đoàn đi tới giữa mới đánh. Tốp này phải thối lui, chạy thục mạng, dìu nhau về được tới đây. Chưa biết có ai bị thiệt hại gì không. Phải đợi tin báo từ tốp chạy trước mới biết ai còn, ai mất? Cả đêm đó, toàn cơ quan cứ xôn xao mãi mà không ngủ được.

Trưa hôm sau, kiểm tra lại thì chỉ thấy thiếu chị Ba Phương. Thôi thế thì chị đã bị rồi!... Anh Hồng Thu còn bị địch bắt, nay chị lại hy sinh. Ngay trưa đó, bộ phận bảo vệ ra bám hiện trường xảy ra vụ tối qua, về báo cáo lại:

- Địch vẫn còn phục kích tại chỗ. Chúng đặt xác chị Ba nằm ngửa, chắc có gài mìn bên dưới như chúng đã thường làm nên anh em chưa dám ra lấy xác, chỉ cử người ở lại bám, leo cây theo dõi.

Nghe vậy, tôi tuy đang khặc khừ, nhưng rất buồn. Mới chiều qua, trước khi đi, chị đã xuống thăm tôi và an ủi. Vậy mà, bây giờ đã chia tay chị mãi mãi rồi. Đành rằng chiến tranh là như vậy, nhưng với hoàn cảnh của chị thật là… họa chồng họa.

*

Chị Ba tên thật là Thu Vân, quê ở Bắc Ninh. Người con gái Từ Sơn ấy những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, được cử đi học sư phạm ở khu học xá, bên Nam Ninh (Trung Quốc). Tốt nghiệp, chị về công tác giáo dục ở Nam Định. Về đây chị bén duyên cùng anh Chuyền là Hiệu trưởng trường Trung học Lê Hồng Phong. Hai vợ chồng chưa kịp có con thì anh Chuyền được tuyển đi B vào Nam. Chị xin đi theo chồng và được chấp thuận.

Vào Nam, anh chị được bố trí về khu Sài Gòn - Gia Định. Anh về làm công tác Huấn học. Còn chị về làm công tác giáo dục ở Củ Chi. Vì đầu năm 1965 dân còn ở đông, Mỹ chưa đánh phá gì nhiều. Hai vợ chồng thỉnh thoảng lại gặp nhau.

Một lần hai anh chị về nghỉ ở Rạch Kiến bên Bến Cát. Đêm đó pháo bắn dọc sông Sài Gòn nhiều. Anh bị một mảnh pháo chém gãy xương tay trái. Lúc này anh lấy tên là Hồng Thu, còn chị lấy tên là Phương, thứ ba nên thường gọi là Ba Phương. Vết thương tay của anh Hồng Thu chưa lành, còn treo băng ở trước ngực, thì đầu năm 1967, vướng cuộc càn Xê-Đa-Phôn (Cedarfalls). Quân Mỹ đánh vào căn cứ Tà Leng, anh bị thương chạy không kịp nên bị chúng bắt sống, đem về giam ở Biên Hòa, sau đày ra Côn Đảo.

Chồng bị giặc bắt, chị Ba rất buồn nhưng cố nén để công tác. Lúc này Củ Chi bị giặc đánh phá rất dữ dội, dân đi hết. Chị được chuyển về công tác phụ vận, công tác chỗ bà Nguyễn Thị Tú.

Chiến dịch xuân Mậu Thân 1968 nổ ra. Chị được phân công về Gò Vấp làm công tác vận động phụ nữ. Ngày ấy, cứ sau khi trận đánh xảy ra ở các trại xe tăng Phù Đổng hoặc pháo binh Cổ Loa. Người ta thường thấy một phụ nữ nói tiếng Bắc đi vào đó, nói là vợ của binh sĩ đi tìm chồng. Vì ở đây có khu Xóm Mới toàn bà con di cư 1954 nói tiếng Bắc, nên ai cũng tưởng thiệt. Chị len lỏi đi xem có nơi nào thương binh bên cách mạng còn sót lại, thì đem về, vận động bà con cơ sở nuôi giấu, chạy chữa, sau tìm cách đưa về căn cứ. Chị còn vận động cơ sở nấu cơm rồi chuyển cho các đơn vị ta đang chiến đấu.

Chị hoạt động rất năng nổ khéo léo, nhưng về sau địch cũng biết. Chúng ra lệnh phải “bắt cho bằng được Con Bắc Kỳ Việt Cộng”. Trên phải rút chị về căn cứ.

Về đây, sau 1968, chị lại xin về Ban Tuyên huấn làm công tác giáo dục. Một lần đồng chí Tư Hoan (Lê Đức Nhuận) phó Ban Tuyên huấn Khu có đưa cho chị xem tờ báo Paris Masch. Ở đó phóng viên người Pháp có đến trại giam Biên Hòa phỏng vấn anh Hồng Thu. Lần ấy anh Hồng Thu đã trả lời rất khảng khái, khí tiết và đòi hỏi quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải thực hiện nghiêm túc công ước Giơne về vấn đề tù binh. Nhìn ảnh bìa tờ tạp chí có in hình chồng, anh Hồng Thu mặc áo tù chị rất xúc động và tin tưởng. Rồi về cậy nhờ bà con ở Đồng Lớn xã Trung Lập Thượng đi thăm nuôi chồng ở Biên Hòa.

Sau hiệp định Paris anh Hồng Thu được trao trả về Miền Bắc và sau đó anh được phân công phụ trách Tuyên giáo Thủ đô Hà Nội. Trong một lần ra Bắc, tôi đã gặp anh và kể lại chuyện gặp chị lần cuối cùng như đã nói ở trên. Anh buồn, nói với tôi:

- Vân là như vậy, rất năng động và tháo vát. Nhưng chiến tranh mà, đành phải chấp nhận. Nhưng với mình Vân vẫn như ngày xưa, còn sống mãi bên nhau.

Sau giải phóng về tiếp quản Sài Gòn, chúng tôi lúc ấy công tác ở tòa soạn Tuần báo Văn nghệ Giải Phóng. Tất cả về ở 190 Công Lý (Nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Một tòa nhà sáu tầng, có nhiều phòng cho Mỹ ở, nên phòng nào cũng sang như khách sạn. Chúng tôi ở không hết, nên ngày ấy anh chị em văn nghệ sĩ ngoài Bắc vào hay đến ở với chúng tôi. Có lần hai chị Cẩm Thanh và Nguyệt Tú phụ trách Nhà Xuất bản Phụ Nữ đã đến ở và khi biết tôi đã từng công tác với chị Ba Phương, chị Nguyệt Tú bảo:

- Vân (tên thật chị Ba Phương) là em anh Lê Quang Đạo, chồng tôi. Anh Đạo quý Vân lắm, nên nghe em hy sinh, anh buồn lắm. Anh xem nếu viết được truyện về Thu Vân, chúng tôi sẽ xuất bản ngay.

Nhưng ngày ấy bận rộn về công việc làm báo quá nên không viết được. Thật tiếc! Sau này, có lần tôi được anh Hồng Thu báo là anh cùng gia đình đã vào Đường Long, tìm mộ chị Ba Phương theo chỉ dẫn của Ban Tuyên huấn Sài Gòn – Gia Định cũ. Nhưng không được, vì địa hình đã thay đổi, chiến tranh đã tàn phá, mộ chị đã không còn. Anh và gia đình đốt nhang vái vọng rồi về.

Chiến tranh là như vậy! Chị Ba Phương cùng một số anh em tôi quen biết đã hy sinh và mộ chí cũng không còn. Nhạc sĩ Quốc Thanh phụ trách văn công Sài Gòn – Gia Định hy sinh trong trận càn Đông Dương. Các anh Hải Lý (Lê Đăng Bảng), Nguyễn Văn Thứ (Hai Hà) giáo viên toán cấp 3, người Thanh Hóa. Hai anh hy sinh ở Bù Nhã phía trên Bời Lời do biệt kích Mỹ. Liên báo vụ Thông Tấn quê Quảng Ngãi hy sinh ở Bầu Bố (Trảng Bàng) do chính tay tôi chôn cất. Vậy mà các anh bây giờ mộ chí cũng không còn. Gia đình đi tìm đều về không, đành để các anh hòa vào cát bụi.

Tôi viết những dòng này với ước nguyện xây mộ chí cho các anh, các chị bằng chữ “Nghĩa”, hy vọng sẽ còn mãi với thời gian. Với tôi, tôi luôn tưởng nhớ mãi các anh, các chị, những người bạn chiến đấu với tôi một thời ở Tam Giác Sắt, căn cứ của khu Sài Gòn – Gia Định một thời vô cùng ác liệt, nhưng rất đỗi anh hùng./.

Đặng Đức Thưởng

 

KÝ ỨC NHÀ GIÁO B2

Nguyễn Đức Mạnh

Ba mươi năm đã qua rồi nhưng bụi thời gian không thể nào che lấp được những kỷ niệm của chúng tôi trong một khoảng ngắn chỉ có ba năm trên chiến trường B2!

Ba mươi năm! Thời gian đã nhuộm trắng mái đầu của chúng tôi – những chiến sĩ giải phóng trên mặt trận giáo dục khi vào chiến trường B2 đang còn xanh đậm mượt mà! Ngày ấy, chúng tôi là những nhà giáo đang trực tiếp công tác quản lý, giảng dạy ở các trường phổ thông cấp 2, 3 trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã tình nguyện lên đường vào chiến trường để góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc! Sau ngày toàn thắng của dân tộc trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, một số anh em đã hy sinh nằm lại chiến trường hoặc đã qua đời trong thời kỳ hậu chiến; những người còn sống đến nay, tuổi đời nhỏ nhất cũng đã lục tuần và đa số đã vào tuổi “xưa nay hiếm”!

Phần lớn anh chị em đều tiếp tục công tác trong ngành Giáo dục và một số do yêu cầu của cách mạng đã chuyển sang ngành khác cho đến ngày được nghỉ hưu! Chúng tôi đều thiết tha với nghề sư phạm nhưng từ sau ngày giải phóng rất ít có dịp gặp lại nhau vì hoàn cảnh công tác, vì ở cách xa nhau và cũng vì tuổi cao, sức yếu nhưng từ đáy lòng, ai cũng mong có dịp tái ngộ! Ban Liên lạc Đoàn Cán bộ – Giáo viên đi B2 năm 1973, đứng đầu là anh Chu Duy Can đã tạo dựng một nhịp cầu để hàng năm, chúng tôi – những anh em đang sống ở Nam Bộ – được gặp lại nhau vào dịp kỷ niệm ngày Đoàn lên đường hồi ấy. Không có bút nào tả nổi niềm xúc động và sung sướng khi chúng tôi siết chặt tay nhau, ôm ghì lấy nhau trong ngày hội ngộ. Biết bao kỷ niệm sâu xa trong 3 năm ở chiến trường B2 hiện về như cuốn phim thời sự nguyên bản. Đó là những mảng ký ức của mỗi người, là những tình nghĩa sâu nặng của mỗi tâm hồn mà khi gặp lại, chúng tôi mới có dịp thổ lộ cùng nhau...

Thắng lợi rất to lớn của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 ở khắp Miền Nam và chiến công xuất sắc của quân, dân ta là đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và nhiều Thành phố khác ở Miền Bắc vào những ngày cuối tháng 12 năm 1972 đã tạo ra cục diện mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở Việt Nam. Ngày 30-12-1972, Chính Phủ Mỹ buộc phải đơn phương tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị ta nối lại cuộc đàm phán ở Paris. Cuối cùng, ngày 27-1-1973, Chính phủ Mỹ buộc phải ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và có hiệu lực từ 9 giờ ngày 28-1-1973. Trước tình hình mới, Trung ương Đảng đã có nhận định: “Không thể ảo tưởng địch sẽ thi hành. Hiệp định một cách nghiêm chỉnh vì kẻ địch rất lo ngại trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn”. Quả vậy, ngay sau khi Hiệp định chưa ráo mực, Mỹ và tay sai đã chủ trương “Trên hòa bình – dưới chiến tranh; ngoài hòa hợp – trong bình định”. Và cấp tốc chiếm vùng giải phóng trước khi Ủy ban Quốc tế Giám sát đến miền Nam.

Vì vậy, việc chi viện cho miền Nam chuyển sang bước phát triển mới. Năm 1973, đồng thời với các ngành khác, ngành Giáo dục đã chi viện ba trăm bốn mốt anh chị cán bộ, giáo viên vào chiến trường, quân số đông nhất so với ba đợt trước (năm 1966, 1969, 1970). Ban tổ chức Trung ương và Tổ B của Bộ Giáo dục đã thành lập hai đoàn: Đoàn I có một trăm lẻ bảy người, lên đường vào Nam ngày 25-4-1973. Chúng tôi đều qua hai đợt tập trung về trường T105 dự lớp bồi dưỡng chính trị của Bộ Giáo dục ở Giai Phạm, Bần Yên Nhân, Hưng Yên; Lớp bồi dưỡng chính trị, tập luyện hành quân vào chiến đấu chung cho chiến sĩ tình nguyện nhiều ngành của Ban Thống nhất Trung ương, trường K105 tại Lương Sơn, Hòa Bình. Tất cả chúng tôi đều hăng hái lên đường, về miền Nam ruột thịt với tinh thần “ra đi không vương thê nhi” – lời Thiếu tướng Lê Chương, Thứ trưởng Bộ Giáo dục – và “đi bằng đầu chứ không phải bằng đôi chân” – Lời đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng! Tất cả chúng tôi không phân biệt ngành nghề – đều được trang bị để thành chiến sĩ giải phóng từ ý thức chính trị đến chiếc mũ tai bèo, bộ quân phục màu xanh, chiếc ba lô con cóc và đôi dép râu... Ngoài ra, với chúng tôi những chiến sĩ giáo dục cũng không quên mang theo mấy cuốn sách giáo khoa, mấy cuốn sổ tay văn – sử – địa, toán – lý – hóa – sinh...

Ngày tạm biệt gia đình, bạn bè để đi ra là thử thách đầu tiên đối với chúng tôi. Mỗi người đều phải lấy nghị lực để vượt qua những hoàn cảnh gia đình đầy rẫy khó khăn trong cuộc sống, dù ai cũng thấm nhuần ý nghĩa và trách nhiệm của chuyến đi lịch sử! Trước tình cảm buồn thương, nhớ nhung, lo âu, băn khoăn, day dứt của gia đình, thân hữu rất dễ làm chúng tôi chùn chân, ngại bước! Có thầy giáo đã gạt nước mắt từ biệt, khi mẹ già đang gần đất xa trời vì bạo bệnh những vẫn hối thúc con đi góp phần giải phóng quê hương! Có cô giáo ra đi khi cha già, mẹ héo, lại đúng vào ngày cô chít khăn tang ngang đầu trong lễ truy điệu người anh là Chiến sĩ Giải phóng vừa có giấy báo tử gửi về. Có thầy giáo đã giằng nỗi đau, khi đàn con thơ dại níu áo lúc phân ly. Có cô giáo đã nuốt nước mắt, lúc gửi con còn bé dại cho em gái trông nom để lên đường! Và, còn rất nhiều hoàn cảnh khác nữa, nếu chúng tôi chỉ thiếu một phần nghị lực sẽ không thể ra đi... Cuối cùng, chúng tôi đã vượt qua tất cả. Chúng tôi chào tạm biệt quê hương thanh bình đang nô nức xây dựng đời sống mới để lao vào cuộc chiến đấu sinh tử đang chờ phía trước. Bởi vì, chúng tôi đã xác định chuyến đi này là chuyến đi cho trận quyết chiến cuối cùng của sự nghiệp cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bảo vệ hạnh phúc cho mọi gia đình ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa thân yêu!

Đường vào là thử thách bước đầu đối với chúng tôi. Bom đạn phá hoại của giặc Mỹ đã để lại những hoang tàn đổ nát, trong đó có những cây cầu sập gãy, những đoạn đường bị vằm nát! Chúng tôi hành quân ngày đêm trên con đường mang tên Bác Hồ kính yêu – con đường nối liền một dải khi non sông đang tràn đầy máu lửa trong cuộc chống Mỹ cứu nước! Chúng tôi đã sống những đêm trên đỉnh Trường Sơn nhớ Bác và mỗi khi gặp gian nan, nguy hiểm, bóng hình của Bác đã soi sáng đường cho chúng tôi vượt qua.

Đúng ngày Quốc tế Lao động (1-5-1973), Đoàn I chúng tôi đã được xe “Zin Khơ” (xe vận tải thời Khơrútxốp) vượt biên giới sang Lào. Chúng tôi qua đèo Phulaních chót vót, được mệnh danh là “Cổng trời” và chúng tôi đã giao tính mạng cho những chàng lính lái xe khi xe đổ dốc 450. Những chặng hành quân bộ theo chân mấy anh lính giao liên, chúng tôi đã qua những đoạn đường có độ dốc thẳng đứng phải leo thanh hai dây toòng teng theo sườn núi đá. Có chặng đường hành quân đêm tối trong rừng sâu hun hút, chúng tôi cứ theo ánh đèn pin bọc lá dầy mà dò từng bước, nhất là khi vắt vẻo trên những cây cầu khỉ treo qua con suối sâu thăm thẳm... Chiếc ba lô trên vai qua những chặng đường dài càng nặng trĩu, chúng tôi vẫn nắm chắc chiếc gậy Trường Sơn đi lên, không một lời than thở!

Mỗi khi tạm dừng chân ở Trạm giao liên, từng tiểu đội chúng tôi lại rủ nhau ra suối tắm mát rồi lấy nước, lượm củi, kiếm rau rừng, tìm măng tre để có được bữa cơm ngon lành! Giữa rừng sâu, dưới tấm tăng, đung đưa cánh võng, chúng tôi ngả lưng thả hồn theo tiếng gió rừng và thỉnh thoảng vang vọng tiếng con tắc kè ở đâu đó...

Hành quân xa trong rừng Trường Sơn, quả thật có rất nhiều kỷ niệm gợi tứ thơ. Bên những dòng nhật ký, nhiều anh em chúng tôi đã viết được những vần thơ thật lý thú!

Đó là niềm lạc quan, tin tưởng chân thành:

Hành quân lội suối, băng rừng

Bờ khe đá dựng chập chùng nhấp nhô

Ơi em, đỉnh núi đang chờ

Ta lên đến đỉnh bài thơ ấm tình!

(Nguyễn Văn Kích - Đỉnh núi!)

Đó là hình ảnh Hồ Chủ Tịch trên đường hành quân:

Đường vào biết lắm gian nguy

Sáng ngời bóng Bác, con đi vững vàng...

...” Ngọn cờ lộng gió sân bay

Đỏ xanh hồn nước, vàng say lòng người.

Ôi chân dung Bác sáng ngời

Một đôi sao sáng chiếu đời tự do.

(Nguyễn Đức Mạnh - Đường vào)

Đó là sự hòa hợp giữa tâm hồn và thiên nhiên:

Trăng lên lấp ló đầu non

Ánh trăng soi tỏ lối mòn ta đi.

Trăng ơi trăng có nhắn gì

Đường ra phía trước có đi theo cùng

(Hoàng Đình Ấn – Trăng)

Đó là nỗi nhớ nhung da diết:

Giữa rừng đại ngàn em là cây, là lá

Cũng tắm nắng trời, cũng uống giọt sương đêm

Nhưng giữa cuộc đời, em là hương, là vị

Là bát canh chua đậm mãi trưa nồng!

(Bùi Nhựa - Cây dang)

Đó là tâm hồn bay bổng và nồng hậu:

Hành quân võng mắc giữa rừng

Nhớ em sao nhớ quá chừng, hỡi em!

Bồi hồi máu trở về tim

Ôi đôi mắt đẹp vượt trên non ngàn!

(Nguyễn Đức Mạnh - Đôi mắt)

Đêm nay anh hành quân

Trăng xuân cao vời vợi

Trăng trong, trăng cao dần

Nhớ thương nhiều, em hỡi!...

(Vũ Đình Hào - Trăng xuân)

Đó cũng là những niềm thầm kín:

Sáng nay hái nắm hoa rừng

Cài lên trên mũ, má mừng Quang Minh!

Hoa cười vành mũ lung linh

Tưởng con nở nụ cười xinh giữa rừng...

(Trần Thị Xuân Lâm - Sinh nhật con trên đường hành quân)

Và cả những tâm tư tràn đầy xúc động:

Thương từ phía ấy đạn bom

Cô gái mở đường mưa có ướt không?

Chiến trường thì rộng mênh mông

Bao nhiêu người lính mưa không có nhà!

(Đặng Nguyệt Anh - Rừng đêm mưa)

Anh chưa làm sự tích anh hùng

Đường Trường Sơn mới đi một nửa

Trái tim anh đã thành ngọn lửa

Soi sáng đường tôi đi

Vĩnh biệt Nguyễn Đình Nghi!

(Vũ Đình Hào - Viếng bạn)

Ai xa quê như chúng tôi

Mới hiểu lòng tôi giữa đất trời

Vì sao tôi khóc, anh em khóc

Nước mắt theo dòng sông Măng trôi!

(Nguyễn Công Trứ - Giữa dòng sông Măng)

Còn nhiều và còn nhiều tứ thơ say đắm lòng người rải theo chiều dài từ Bắc vào Nam trên đường Trường Sơn hùng vĩ! Một con suối sâu thẳm, một con ngầm đá bạc với hàng ngàn cánh bướm trắng dập dìu, một cơn mưa rừng bất thần, một trận lũ đầu nguồn cuồn cuộn trôi, một cơn lốc rừng, một tiếng chim kêu khoảnh khắc... đều tạo nên tứ thơ cho tâm hồn nhạy cảm! Và, một bữa cơm dã chiến, một cơn sốt rét rừng ập tới, một lối mòn không dấu vết, một nghĩa trang quạnh hiu, một lễ truy điệu đồng đội nằm lại trong rừng sâu... đã lắng sâu trong tâm hồn thơ chiến sĩ. Chúng tôi vẫn mải miết đi như giành giật thời gian, nuốt chửng không gian. Suốt chiều dài bên tây Trường Sơn, chúng tôi đã qua Khăm Muộn đến Xaravan, qua cao nguyên Bôlôven đến Atôpơ rồi dừng chân ở Ngã ba Biên giới. Tạm biệt đất nước Triệu Voi, chúng tôi đã sang đến đất nước Chùa Vàng – Chùa Bạc, tiếp tục lặn lội qua những khu rừng khộp, rừng le, rừng buông và vượt sông Xêkông để đến Stungtreng; vượt sông Xêxan, để đến Xêrêpôk... Chúng tôi, hăng hái vượt sông Mêkông và tạm biệt đất nước Campuchia để trở về quê hương miền Nam ruột thịt! Những chiếc ghe máy dũng cảm luồn màn đêm vượt qua dòng sông mênh mông, bất chấp máy bay C130 của địch chuyên dò tìm nhiệt để phát hiện mục tiêu là lập tức oanh kích dữ dội! Cuối cùng, đoàn chúng tôi đã qua sông an toàn dù có phải nén thở qua những giây phút căng thẳng thật hiểm nghèo!

Vừa tròn hai tháng leo đèo lội suối, vượt núi băng rừng trên đường Trường Sơn, ngày 25-6-1973 chúng tôi đến biên giới Việt Nam – Campuchia. Con sông Măng nhỏ bé hiền hòa là đường biên giới. Chúng tôi ùa xuống nước, lội qua sông để sớm đặt chân lên đất Mẹ. Vừa lên đến bờ, chúng tôi ôm chầm nhau mà reo, mà nhảy... Có tiếng súng AK lẫn tiếng súng ngắn K59 nổ vang thay cho tiếng pháo chào mừng! Cảm động, sung sướng đến nghẹn lời khi lòng chúng tôi muốn nói nhiều với Mẹ, sau những ngày gian nan lặn lội để quyết tâm về góp phần giải phóng quê hương. Tổ quốc – Mẹ hiền yêu dấu, Người đang dang rộng vòng tay đón chúng tôi đã trở về. Người sẽ còn sung sướng đón đợi những đứa con tiếp tục trở về và Người cũng không tránh khỏi nỗi đau cắt ruột khi được tin có những đứa con đã hi sinh trên dọc đường gian khổ!

Chúng tôi đã đến Lộc Ninh – thủ phủ của quê hương cách mạng miền Nam! Không nén nổi sự xúc động mãnh liệt và niềm tự hào dào dạt khi chúng tôi gặp lại chân dung Bác Hồ trên tầng cao của sân bay Lộc Ninh. Đôi mắt sáng ngời và tràn đầy trìu mến của Bác đang âu yếm nhìn chúng tôi. “Thưa Bác! Chúng con đã đi đến nơi, về đến chốn và chúng con đang mong muốn rất sớm được hòa mình vào cuộc chiến đấu ngoan cường của quân dân miền Nam quyết giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà”.

Chỉ sau vài ngày nghỉ lấy lại sức, chúng tôi đã từ căn cứ “Ông Cụ” – mật danh của Trạm giao quân cuối cùng của Trung ương Cục (còn gọi là cứ anh Mười Sơn) khẩn trương lên đường tiếp tục về địa điểm tập kết cuối cùng. Lần theo con đường đất đỏ luồn sâu trong những khu rừng cao su mênh mông, chúng tôi đã mục kích những xe tăng, thiết giáp của Mỹ ngụy phơi xác bên vệ đường. Chúng tôi đã đón nhận những cặp mắt nheo cười và những bàn tay vẫy chào của các má miền Nam. Xa xa, ngọn núi Bà Đen ẩn hiện sau những khu rừng tràm. Chúng tôi qua vùng giải phóng và đã chứng kiến quang cảnh làm ăn vui vẻ, phấn khởi của bà con! Xe ô tôi đưa chúng tôi qua cầu Cần Đăng, sân bay dã chiến Thiện Ngôn, qua Xa Mát, xóm Giữa và về đến Lò Gò nằm bên bờ thượng nguồn sông Vàm Cỏ Đông. Chúng tôi lại tiếp tục đi sâu vào rừng Tây Ninh để tập trung tại cứ Tân Binh (cứ anh Năm Xá) của Bộ Giáo dục và Thanh niên của Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam! Đó là đêm cuối cùng của chặng đường hành quân từ Bắc vào Nam của Đoàn I. Chúng tôi, ai cũng thở phào như vừa qua một giấc mơ khủng khiếp!

Chúng tôi sẽ phải tạm biệt nhau để về các địa phương, chuẩn bị hòa mình vào cuộc chiến đấu một mất một còn của quân dân miền Nam anh hùng! Ban Tổ chức Trung ương Cục và Bộ phận Tổ chức của Tiểu ban Giáo dục lần lượt công bố quyết định biên chế chúng tôi đi bổ sung cho các B Kinh tài, B Dân Y, B Văn hóa... của Ban Tuyên huấn R (R là mật danh của Trung ương Cục), đi các Tiểu Ban Giáo dục của T1, T2, T3, T7 và Y4 (mật danh của các địa phương). Mấy ngày chờ đợi trước lúc phải xa nhau, chúng tôi không tránh khỏi những nhớ nhung, bùi ngùi! Hơn hai tháng trời đã đồng cam cộng khổ trên đường Trường Sơn huyền thoại thì làm sao quên nhau được. Ký ức đã khắc sâu cảnh đội mưa bom của địch khi chúng phát hiện ra chúng tôi vừa dừng chân tại một điểm giao liên mà rất may không một ai bị thương vong! Ký ức cũng còn ghi một đêm Đoàn chúng tôi lạc đường suýt nữa dẫn thân vào bốt địch! Ký ức chẳng phai mờ những ngày mưa rừng tầm tã và suối lũ đã kéo trôi cả người và ba lô chúng tôi đi hàng trăm mét! Ký ức cũng còn sâu đậm tình thương yêu của chúng tôi đối với đồng đội bị thương vong hoặc bị sốt rét ác tính phải nằm lại dọc đường! Còn nhiều và còn rất nhiều kỷ niệm vui buồn trên đường Trường Sơn, mà chỉ có ký ức của mỗi người mới có thể ghi lại được đầy đủ và chi tiết cụ thể...

Đoàn 2 năm 1973 lên đường ngày 28-11-1973 và đã đến cứ Tân Binh của Tiểu ban Giáo dục ngày 11-01-1974. Anh chị em hành quân có đỡ vất vả hơn vì được ô tô vận chuyển qua một số đoạn đường nhưng ký ức gian khổ và nguy hiểm thử thách cũng không kém gì Đoàn 1.

Cuối cùng, giờ chia tay để theo chân giao liên về công tác ở các nơi cũng đã đến. Chúng tôi ôm nhau thật chặt, siết mãi bàn tay của nhau và cũng không quên ghi lại cho nhau mấy dòng địa chỉ để hy vọng một ngày gặp lại! Những anh em về các cơ quan R thì tiếp tục lội suối băng rừng nhưng những anh em về các địa phương thì không chỉ có vượt rừng rậm mà còn phải luồn qua những vùng địch kiểm soát, tính mạng như treo trên sợi tóc. Những anh em về các tỉnh miền Tây lại còn phải vòng vo qua đất bạn, tất nhiên phải đối mặt với bọn thổ phỉ Campuchia ẩn náu trong rừng rậm! Nhưng rồi gian khổ và biết bao thử thách cũng qua đi và chúng tôi cũng đều đã đến đơn vị để hăng hái nhận nhiệm vụ mới! Trên chiến trường B2, mọi người đều là chiến sĩ giải phóng và tài sản cá nhân chỉ có chất xám trong đầu và chiếc bòng đựng tăng, màn, võng! Cục diện chiến trường diễn biến từng ngày, từng giờ trong trạng thái da beo nên chúng ta vẫn phải thường trực chiến đấu để giành dân, giữ đất và bảo vệ vùng giải phóng. Theo sự phân công của đơn vị, chúng tôi đã làm bất cứ công việc gì dù là trực tiếp chiến đấu hay phục vụ chiến đấu, có người làm du kích, có người làm giao liên, hậu cần; có người còn phải gánh cả nhiệm vụ bí thư chi bộ địa phương, có người gánh cả nhiệm vụ chính quyền xã, ấp ở những vùng địa phương vừa giải phóng, mở vùng, mở lõm, hoặc địa phương toàn đồng bào mới từ Campuchia về, có người còn được Trung ương Cục điều động xuống phía trước để cùng làm ruộng rẫy với đồng bào từ trong ấp chiến lược ra sản xuất để thu mua lương thực, xây dựng cơ sở giữ chân thanh niên và lính ngụy đào ngũ, có người còn được phân công “dùi sâu” vào vùng đệm để giành dân, xây dựng cơ sở đón bộ đội vào giải phóng và có người đã hy sinh trong hầm chiến đấu như thầy giáo liệt sĩ Trần Thế Lộc, liệt sĩ Lại Ngọc Bảo... Những địa phương đang trong tình trạng chống âm mưu lấn chiếm của địch là vậy! Còn ở vùng giải phóng, những thầy giáo đã từng giảng dạy học sinh bậc Tú tài nay phải vào nhà dân để vận động từng em nhỏ đến trường Tiểu học mà dạy; thậm chí phải năn nỉ bà con lớn tuổi ra lớp học Bình dân để chỉ bảo cho họ cái chữ của Bác Hồ! Lại còn phải ngày đêm cảnh giác âm mưu địch cài cắm gián điệp, biệt kích ra vùng giải phóng phá hoại hoặc làm ám hiệu cho máy bay địch oanh tạc ngôi trường tre lá mà thầy trò đã tự lực xây cất! Chúng tôi đã tự răn mình “dù công việc nhỏ nhặt mà có lợi cho cách mạng thì vẫn vui vẻ làm”. Vì thế, có nơi ở vùng giải phóng chỉ có một, hai học sinh học vỡ lòng hay học lớp một, thầy giáo chúng tôi vẫn nhiệt tình giảng dạy! Trong khi đó các thầy cô giáo ở các cơ quan trong căn cứ giữa rừng, ngoài công tác nghiên cứu cũng đã sẵn sàng làm anh nuôi, tiếp phẩm, xuống suối mò cá, tìm trảng trồng rau, nuôi gà để tự cải thiện sinh hoạt... Có những thầy giáo phải nhận công tác trái ngành nghề như thợ sắp chữ trong xưởng in, thợ cơ khí chuyên sửa chữa máy nổ, công nhân chiếu phim và thuyết minh phim... Nhưng chúng tôi vẫn kiên trì học hỏi để có thể đảm đương được nhiệm vụ cấp trên giao phó! Nói tóm lại, chúng tôi đã sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ nào và đều quyết tâm hoàn thành công việc của cách mạng. Ý đồ của Bộ Giáo dục cử Đoàn chúng tôi vào B2 với các khung cán bộ quản lý, giáo viên đào tạo bậc Tú tài chỉ là viễn ảnh tương lai, tất nhiên là hiện thực khi sự nghiệp giải phóng miền Nam đã hoàn toàn thắng lợi.

Và rồi chiến dịch Hồ Chí Minh vào mùa xuân 1975 đại thắng! Cũng như các bạn ngành khác, chúng tôi từ giã căn cứ bí mật trở về đồng bằng. Sau những ngày tất bật và không kém phần gian khổ, đa số chúng tôi đều đã trở về vị trí theo ý đồ của Bộ Giáo dục trước ngày đi B2! Nhiều đồng chí đã đảm đương nhiệm vụ quan trọng trong Ngành hoặc ở các ban ngành khác. Chúng tôi đã gặp lại anh Chu Duy Can – Phó Hiệu trưởng trường CĐSP TP.HCM, anh Phan Ngọc Đằng – Hiệu trưởng trường CĐSP Bến Tre, nhà giáo ưu tú, tỉnh ủy viên, anh Hà Duy Long – Hiệu trưởng trường CĐSP An Giang; anh Nguyễn Văn Tặng – Phó Giám đốc Sở Giáo dục Kiên Giang; anh Trần Quốc Diễm – Giám đốc Sở Giáo dục Tây Ninh; anh Lương Đức Nhuận – chuyên viên cao cấp, Ban Khoa giáo Thành ủy TP.HCM; anh Nguyễn Văn Kích – Vụ trưởng Vụ Kế hoạch đào tạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư... Chúng tôi còn được tin anh Nguyễn Đức Danh – Giám đốc Sở Giáo dục Sông Bé; anh Nguyễn Hữu Nghiệp – Giám đốc Sở Giáo dục Cần Thơ; anh Nguyễn Quang Kiệu – Giám đốc Sở Giáo dục Bình Thuận; anh Lê Huy Luyện – Giám đốc Sở Giáo dục Vũng Tàu – Côn Đảo; anh Hoàng Văn Đại – Giám đốc Công ty Cổ phần sách Giáo dục tại TP.HCM; anh Nguyễn Văn Nhuần – Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bình Phước; anh Lê Đình Lập – Phó Giám đốc Sở Giáo dục đào tạo TP.Hà Nội; anh Bùi Quốc Toàn – Hiệu trưởng Trường CĐSP Hà Tây; anh Bùi Đức Luận – Vụ trưởng Vụ pháp chế thuộc ban tôn giáo chính phủ... và còn nhiều anh chị em khác đã là cán bộ quản lý hoặc cán bộ chuyên môn, hoặc trực tiếp giảng dạy ở các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học Phổ thông trên mọi miền đất nước...

Đó là con đường tất yếu cũng như con đường đi B2 của chúng tôi là tất yếu! Hồi tưởng lại ba năm sống mái với kẻ thù trên chiến trường B2, chúng tôi đều thở phào nhẹ nhõm bởi được góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp cách mạng lớn lao của dân tộc, đã quyết tâm đi theo con đường của Đảng và Bác Hồ kính yêu!

Dưới ngọn cờ chiến thắng, chúng tôi đều bùi ngùi xót thương các anh chị em đã hy sinh trên chiến trường hiện đang còn nằm lại trong rừng sâu! Chúng tôi đã rủ nhau viếng thăm nhưng làm sao mà tìm được hết phần mộ của các anh chị nên chỉ trông chờ vào một ngày nào đó, Nhà nước sẽ đưa rước hài cốt của các anh chị về Nghĩa trang Liệt sĩ! Cùng đồng đội đi B2 nhưng các anh chị chỉ có đi mà không trở về nên những kỷ niệm của các anh chị với đồng đội đã ghi tạc vào ký ức của mỗi người chúng tôi!

Chúng tôi lại tâm tình về những kỷ niệm với các anh chị đã quá cố sau ngày giải phóng. Các anh chị đã bị thương tật từ chiến trường hoặc đã mang bệnh hiểm nghèo từ những ngày hành quân trên đường Trường Sơn hay từ căn cứ trong rừng sâu nước độc! Những năm tháng gian khổ ở B2 đã bào mòn sinh lực và rút ngắn tuổi đời của các anh chị cho dù chúng ta đã từng chấp nhận và coi đó là chuyện bình thường của người chiến sĩ cách mạng!

Chúng tôi đã tìm hiểu về cuộc sống của những anh chị đã nghỉ hưu nhưng đang còn gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Đi B2 trở về với tâm hồn trong sáng và vẫn giữ nguyên phẩm chất, đạo đức của người thầy giáo, các anh chị vẫn sống với đồng lương hưu rất hạn chế khi tuổi già sức yếu đeo bám trên lưng! Rất khát khao gặp lại đồng đội B2 hồi ấy, cũng như rất thèm thuồng được trở lại chiến trường xưa nhưng tất cả chỉ là ảo vọng bởi thực trạng, các anh chị chỉ có hai bàn tay trắng!

Ngồi bên nhau khi gặp lại trong dịp Ban Liên lạc triệu tập mỗi năm theo thường lệ, chúng tôi muốn hàn huyên cho thỏa nỗi nhớ mong nhưng nói mãi vẫn chẳng cạn lời! Còn nhớ ngày vào đến “Ông Cụ”, nhìn lại bao gian khổ, bao thử thách đã qua, chúng tôi đã nói vui với nhau: “Chỉ cần vượt được Trường Sơn vào đến B2 là đã xứng đáng được tặng huân chương”. Quả thật, đối với những người đi tuyến lửa nói chung, vào B2 nói riêng, đó là bước đầu của sự hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tiếp đó là những chiến công hiển hách, những chịu đựng thầm lặng trên các nẻo đường khói lửa, những mất mát về thể lực không thể phục hồi hoàn hảo và nhất là sự hy sinh tính mạng trên chiến trường đều là những điều sống động mãi mãi trong ký ức nhà giáo B2 của chúng tôi!

Hiện nay, nhờ chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước, bộ mặt của đất nước ngày càng khang trang, đời sống của nhân dân ngày càng mát mặt! Chúng tôi vui mừng trước những thắng lợi của thế hệ nối tiếp đang mang lại hiệu quả to lớn trong thời buổi kinh tế thị trường. Với cả tấm lòng chân thành, chúng tôi nghĩ rằng thời đại mới luôn nhớ đến những người đi trước đã đóng góp vào tương lai tươi sáng cho ngày nay!

Chúng tôi đã được ghi tên vào cuốn Sổ Vàng Ghi Công của Bộ Giáo dục... nhưng tiếc gì mà Bộ không tặng cho mỗi thầy cô giáo đi B2 cho cả nhiều thầy cô giáo đã được Trung ương Cục hoặc đã được tổ chức sau ngày 30-4-1975 điều động sang công tác khác một tấm huy chương Vì Sự nghiệp Giáo dục, thậm chí là một tấm Kỷ niệm chương Nhà giáo B2. Có nhìn thẳng vào sự thật mới thấu hiệu nỗi đau thương nhức nhối suốt đời của gia đình các thầy giáo, cô giáo là liệt sĩ, tử sĩ trên chiến trường B2! Có nhìn thẳng vào sự thật mới cảm nhận được nỗi đau thương day dứt của các gia đình các thầy giáo, cô giáo mang thương tật từ chiến trường B2 để dẫn đến cái chết bất đắc dĩ sau ngày chiến thắng! Có nhìn thẳng vào sự thật mới cảm thông với nguyện vọng của thầy giáo, cô giáo đang còn nghèo khổ mà từ đáy lòng vẫn tha thiết được gặp lại đồng đội, vẫn ước ao có được một lần thăm lại chiến trường xưa.

Ký ức nhà giáo B2 không chỉ là kỷ niệm sâu sắc của một thời máu lửa mà còn là tiếng gọi của lương tâm của thực tại!

Nguyễn Đức Mạnh

 

NGƯỜI ĐI BỘ CUỐI CÙNG ĐẾN TIỂU BAN GIÁO DỤC R

Trần Quốc Côn

Tất cả mọi người đều đã đến R, kể cả Nghi – người bị vỡ ruột thừa trước khi vào trạm xá 83. Chả ai tin tôi còn sống vào được đến R. Trong khi đó có tin ra Nam Định, nơi tôi công tác là “Đồng chí Côn đã vĩnh viễn nằm lại đường Trường Sơn”.

Kể từ sau Đoàn của chúng tôi vào B2 năm 1973, các Đoàn đi tiếp đều hành quân bằng xe cơ giới, nghĩa là chúng tôi là Đoàn đi bộ cuối cùng và tôi là người đi bộ cuối cùng đến Tiểu ban Giáo dục R. Hiện còn sống.

Bảy anh em Chi 3 chúng tôi ngồi trên hai xe tải chở gạo cuối cùng, được giữ lại ở ngã ba Kon Tum và hành quân về Binh Trạm 79. Số còn lại của toàn Đoàn ngồi trên những chiếc xe tải đi trước đã lạc sang đất Lào, phải đi bộ trở lại Trạm 79 để hành quân tiếp vào Nam. Sau bốn ngày chờ đợi hợp Đoàn tại Trạm 79, toàn Đoàn tiếp tục đi bằng ca nô về Trạm 33. Mỗi khi qua thác, mọi người phải rời ca nô lên bờ đi dọc bờ sông.

Đã hai ngày liên tục sốt cao hơn bốn mươi độ, tôi chẳng ăn được gì, nằm lì trên võng. Bạn bè ai cũng ái ngại.

Sẩm tối, sau khi chủ động họp bàn việc lãnh đạo Chi với đồng chí Đức Bản và Ba Quân, tôi đang lơ mơ trên võng thì Nguyệt Anh đến, đưa chiếc nắp ăng-gô có ít bột đậu xanh mà bạn Nhiên vừa khuấy, động viên tôi:

- Anh cố gắng ăn một ít cho có sức.

Và tiếp đó, Nguyệt Anh nhỏ nhẹ dấu vẻ ân hận:

- Chắc là hôm kia, cả hai lần qua thác, anh Ưởng và anh dầm lâu trong nước mới bốc được em lên ca nô. Anh bị cảm nặng.

Để Nguyệt Anh yên tâm, tôi cố gắng uống thìa bột canh. Nhưng không được, tôi nôn ra hết. Tôi lại nằm xuống võng, thiêm thiếp và chìm dần trong cơn mê tại bãi khách của Binh Trạm 33. Anh em đã xin ca nô, chạy ngược 2 thác trở lại Trạm xá 83 dưới đêm mưa tầm tã để cấp cứu cho tôi.

Chắc là sau nhiều lần lay gọi, tôi lơ mơ nhận ra anh Ưởng đang thụp xuống đầu giường tôi, giọng anh lạc đi vì xúc động:

- Côn ơi! Nằm lại đây, chúng tôi về Đoàn để đi tiếp nhé!

Chỉ bằng ánh mắt, tôi đồng ý và thấy vài bạn nữa đứng cạnh giường nhưng không rõ là ai. Tôi thoáng nghĩ: chắc mình chết! Mình còn bố mẹ, vợ con đang ở miền Bắc. Và rồi tôi không còn nhận biết được gì nữa...

Lơ mơ, tôi rên khẽ: “nước! nước...”

Có bóng người và tiếng phụ nữ:

- Anh nằm yên, tôi lấy nước cho!

Chờ đợi và im lặng. Khi thìa nước âm ấm chạm vào môi, tôi cố mở mắt, bóng cô y tá hắt lên nóc lán nhờ ánh đèn dã chiến. Thấy tôi muốn ngồi dậy, cô nói như ra lệnh:

- Anh nằm im! Đang truyền dịch!

Được vài thìa nước, tôi thấy đỡ khát rồi lại thiếp đi.

Khi tỉnh lại. Chiếc lán cấp cứu chìm dưới đất, nơi tôi nằm đã sáng rõ nhờ nắng to. Cạnh tôi chỉ có một giường, một cậu bộ đội trẻ đang co quắp mê man. Cô y tá Nhiên mảnh dẻ và dịu dàng đã giúp tôi ngồi dậy.

- Tỉnh rồi! Em dìu anh lên mặt đất ngồi cho khỏe để em làm vệ sinh.

Tôi cố gắng leo lên mấy bậc thềm, lên mặt đất. Ngồi trên chiếc ghế được kết từ những cành cây nhỏ, tôi dựa hẳn vào một thân cây. Những đốm sáng nắng xuyên qua những tán lá rừng nhảy múa trên mặt đất. Bên trái, cách chừng ba mươi mét, hai bệnh nhân dân chính cùng Đoàn, đi lại phía tôi, mừng rỡ như thân quen:

- Tỉnh rồi hả? Ông mê man đã bảy tám ngày nay!

Đó là Trác và Bốn.

- Hôm nay là ngày mấy?

- Ngày 1 tháng 6.

Một thoáng nghĩ trong tôi: Tết thiếu nhi này, con mình có những quà gì đây! Chếch bên phải, bốn năm bệnh nhân khác nhìn sang. Một anh vừa đi lom khom, ôm bụng bước sang ngồi cạnh tôi:

- Thấy ông mê man bất tỉnh, anh em lo cho ông quá!

Hỏi ra mới biết đó là Nghi, người Hà Tĩnh, ruột thừa bị bục trước khi vào trạm xá. Anh đã được mổ bảy ngày nay, còn đặt ống “xông” và còn đang nằm bên lán bệnh nhân nặng.

Tôi đã tỉnh lại được hai ngày. Sáng nay, đồng chí quân dược bị teo cơ cứng khớp, sau bữa ăn sáng đã ra đi vĩnh viễn! Tôi được dìu sang lán bệnh nhân nặng để lấy chỗ làm lễ truy điệu cho đồng chí quân dược ấy.

Khi tỉnh lại, tôi thấy mình đang nằm trong lán cấp cứu. Hỏi ra mới biết, sau khi chôn cất đồng chí quân dược, trạm xá phải cáng tôi trở lại lán cấp cứu để chăm sóc vì tôi lại sốt cao và chìm vào mê man. Tính ra đã mất sáu ngày.

Đã khỏe được mươi ngày và đã đi lại được, tôi và Nghi lần theo con đường mòn phía sau lán để kiếm ít rau cải thiện. Đi được một đoạn chừng bốn trăm mét thì thấy có một khoảng rừng trống có nắng. Tưởng là một trảng nhỏ, chúng tôi cố đi tới. Thì ra đó là nghĩa trang của trạm xá, đã có gần trăm ngôi mộ. Mỗi mộ có một tấm tôn đục tên người đã khuất! Ngay đầu dãy là một một bác sĩ. Đồng chí quân dược hôm rồi cũng nằm tại đây. Một luồng gió lạnh thổi từ phía cuối nghĩa trang, tôi rùng mình ớn lạnh, vội rủ Nghi quay về.

Và, tôi lại mê man mấy ngày…

Anh em đã xuất viện nhiều, chỉ còn Nghi, Bốn, Trác và tôi cùng một số ít thương binh. Những hộp sữa bò hoen rỉ đã được trạm xá luộc kỹ, dành bồi dưỡng cho tôi những ngày mê man không ăn được gì, nay còn chất đầy đầu giường, tôi đem chia cho anh em cùng bồi dưỡng.

Một buổi chiều nắng đẹp, vừa ngủ dậy, tôi mở ba lô định lấy bộ quân phục Tô Châu ra thay thì thấy mình rơi hun hút xuống một cái giếng sâu thẳm. Tôi hét lên: Cứu tôi với! cứu tôi với! Rồi mê man không biết gì...

Bốn lần tôi mê man, nằm lại lán cấp cứu của trạm xá hai tháng liền. Mà rất lạ, trước mỗi lần bất tỉnh hoàn toàn, tôi vẫn thoáng nhận ra một điều là mình còn bố mẹ, vợ con sống ở miền Bắc.

Y sĩ Liêu – Trạm xá trưởng – được điều động ra Đội phẫu thuật tiền phương. Trước khi đi, anh đến thăm từng bệnh nhân và chia tay. Với tôi, anh tâm sự “Anh yếu quá, sốt cao là mê! Nếu ở các binh trạm ngoài kia thì anh có thể được trở ra. Nhưng vào đến đây rồi, không giải quyết được! Tôi còn tám viên “Phòng 3” tên một loại thuốc viên cắt cơn sốt rét của Trung Quốc dành cho tôi, tôi cho anh, phòng khi sốt quá cao mà không gần trạm xá thì anh uống. Tôi đi! Chúc anh đi đến nơi, về đến chốn. Hẹn gặp nhau ở quê hương.

Vì bệnh xá được chuyển về phía Đông Trường Sơn. Chúng tôi tuy đã cắt sốt nhưng vẫn còn yếu cũng xuất viện, ra trạm giao liên để đi tiếp. Khi tiễn Nghi, Bốn và tôi, em Du – người Nam Định bỏ vào ba lô của tôi ký đường em được bồi dưỡng sau những ca trực đêm, rồi khoác ba lô của tôi, dìu tôi xuống ca nô. Các em Nhiên, Việt, Xuân – người Thanh Hóa đứng đầu dốc vẫy chào. Lại một lần chia tay bịn rịn, nặng tình đồng chí, thắm tình đồng hương!

Sau khi xuất viện ở Trạm xá 83, trên đường vào, tôi sốt lại nhiều lần. Có lần nằm ở Trạm xá khoảng mười ngày, không có gì ăn, ngoài thịt trâu: nướng, kho, xào. Khi ra viện, mồ hôi tôi toàn mùi trâu. Cứ mỗi lần vào Trạm xá, là một lần tôi thụt lùi lại đằng sau các bạn, là một lần phải ghép với những đoàn khác nhau. Khi thì Đoàn cán bộ đi khảo sát chiến trường; khi thì Đoàn bác sĩ, dược sĩ quân đội; khi thì Đoàn anh em chiến thắng trở về...

Và tôi – là người cuối cùng đến Tiểu ban Giáo dục R bằng đường bộ với tấm thân tiều tụy, da xanh màu lá vì sốt rét. Bạn bè trong Đoàn gặp lại, ai cũng mừng và cũng thương xót. Không có những Binh trạm, những Trạm xá quân y dọc đường vào, không có những đoàn vào, những chiến sĩ giao liên động viên chăm sóc và không có quyết tâm của bản thân thì chắc gì tôi sống, chứ nói gì đến chuyện tôi vào được Tiểu ban Giáo dục R.

Xin cảm ơn tất cả.

Trần Quốc Côn

TRÍCH KÝ ỨC MỘT THỜI HOA LỬA

TRÍCH KÝ ỨC MỘT THỜI HOA LỬA

TRÍCH KÝ ỨC MỘT THỜI HOA LỬA