Chuyện nhỏ của nhà giáo
Nguyễn Thị Yến Thu
Ngày 10/10/2012 kỷ niệm năm mươi năm giáo dục giải phóng miền Nam Việt Nam. Thời gian trôi qua nhanh quá. Nửa thế kỷ mà như mới ngày nào. Tôi ở trong đoàn giáo dục, chi viện cho miền Nam tập trung từ tháng 10/1964 tại trường 105 giáp bát. Tại đây chúng tôi vừa được học chính trị, quân sự và những kiến thức cơ bản cho cuộc hành quân vượt Trường Sơn vào Nam tham gia công tác giáo dục và chiến đấu chống Mỹ. Lẻ ra giữa tháng 12 năm 1964 chúng tôi đã hành quân. Nhưng địch đánh phá đường dây nên ngày 5/1/1965 chúng tôi mới lên đường.
Dù đã luyện tập mang vác quen rồi nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ nặng 40kg mà mang trên vai chiếc ba lô 20kg quả là không nhẹ nhàng chút nào. Càng hành quân, ăn uống thiếu thốn, người càng teo tốp chỉ còn ba bảy, ba tám ký. Bạn bè đặt cho cái tên không giống ai, chỉ giống mình thôi “Đèo Thị Đẹt”, cái tên như vậy theo tôi trên một chặn đường vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu.
Càng đi chiếc ba lô càng như nặng thêm ra, cái gì ăn được thì ngày càng vơi đi, cái nào bỏ được thì vứt đi. Riêng tài liệu giáo dục, chuẩn bị cho nhiệm vụ chính của người giáo viên tôi đã chép tay vào giấy poluya, hoặc photo thì cố gắng giữ gìn đầy đủ chẳng dám đụng đến.
Chuyện hành quân vượt Trường Sơn thì khó khăn gian khổ đến tột cùng. Từ những cô sinh viên trường Đại học, chỉ quen với đèn sách, giờ phải sống giữa rừng đại ngàn lúc đầu gần như muốn thích nghi không phải dễ dàng. Nhưng vốn cũng đã được nhà trường rèn luyện trong những lần đi lao động giúp dân, làm thủy lợi lao động xã hội chủ nghĩa ở Thủ Lệ, sông Tô Lịch đã giúp tôi vượt qua thử thách khó khăn, gian khổ đó.
Lúc đó chúng tôi chỉ mới hai mươi tuổi. Đi vào cuộc chiến với ngọn lửa nhiệt tình yêu nước hy sinh như chị Nguyễn Thị Lý, anh Nguyễn Văn Trỗi. Dù biết đi Nam là chấp nhận hiểm nguy có thể hy sinh cả tính mạng nhưng chúng tôi vẫn lạc quan yêu đời, vui cười là chuyện tự nhiên thường trực trong mỗi con người so với thiên nhiên với cuộc chiến thật rất bé nhỏ.
Có một lần, đơn vị được nghỉ 3 ngày bên dòng sông Nhật Lệ, chúng tôi gom hết tiền miền Bắc ra mua tất cả mọi thứ gì mua được. Nào gà, đường, sữa, chanh, ổi và cứ thế mang vát tất cả vào rừng để phục vụ cho cuộc hành quân lớn. Rời Nhật Lệ, Quảng Bình ô tô đưa chúng tôi vào con đường mòn Hồ Chí Minh vào một đêm tối trời tháng chạp âm lịch gần 2 giờ đêm xuống xe và khuân vác hành quân lên núi. Vừa tới đỉnh núi chúng tôi còn đang loay hoay căng tăn, căng võng chưa xong thì máy bay T28 ào tới chớp sáng kèm tiếng nổ đùng đùng liên tục. Chúng tôi cũng còn chưa biết chuyện gì và xử trí như thế nào. Có người còn ngồi nguyên trên võng. Lũ gà mà chúng toi mua từ sông Nhật Lệ lên trống mái đều đồng loạt hét lên ồn ào không tưởng được. Anh Đức chi trưởng của chúng tôi bực mình la to “chết đến nơi rồi mà còn gà với gúc”. Thế là lũ chúng tôi tất cả cười ồ lên và hỏi lại. “Bộ máy bay nghe tiếng gà kêu hả anh Đức?” và cứ thế cười không nén được, không còn biết sợ nữa. Chúng tôi đi vào cuộc chiến lòng nhẹ nhàng, không so đo, khôn tính toán, gắn bó với nhau như anh em ruột thịt. Tổ tam tam của tôi có anh Ngô Thành một đồng chí miền Bắc, trắng trẻo, đẹp trai, chịu thương chịu khó. Hành quân đến nơi thường bảo tôi đi tắm giặt để đồng chí lo củi lửa, nấu cơm trước. Người thứ hai là anh Nguễn Ngọc Quang, tốt nghiệp khoa văn Đại học Sư phạm Vinh, cũng rất trắng trẻo, đẹp trai, dễ thương cũng rất chịu thương, chịu khó gánh vác việc nặng hết cho tôi. Có lần tôi nhớ mãi, chỗ đóng quân chung với đơn vị pháo binh. Trong rừng già nhưng nhộn nhịp vô cùng. Kẻ đi qua, người đi lại. Tôi tắm xong, hai anh Thành, Quang đã chuẩn bị củi nước, tôi nấu cơm, hai anh đi tắm giặt. Lúc bấy giờ máy bay ở đâu bỗng ù đến tôi vội vàng dụi tắt lửa. Nhưng càng dụi lửa càng cháy to. Mấy đồng chí bộ đội gần bên hét. “Trời ơi! không dập lửa để máy bay đến đánh phát chết cả lũ hay sao!” Quýnh quáng tôi dụi tanh bành, te be. Máy bay đi rồi tôi bắt đầu nhen nhóm lại. Một anh bộ đội trẻ thôi, lại gần giúp tôi nhóm lửa và chỉ tôi, “chị múc một ca nước để gần. Hễ nghe tiếng máy bay là ngụm một ngụm, phun vào bếp lửa, lữa sẽ tắt ngay. Máy bay đi mình lại thổi là lửa cháy liền”. Một bài học giản đơn, trường đại học không dạy ta mà cuộc sống chinh chiến dạy ta hay quá! sâu sắc quá! nhiệm màu quá!.
Trước khi đi, đoàn chúng tôi được trang bị khá đầy đủ những đồ dùng cá nhân. Chúng tôi ai cũng được trang bị một đèn pin và sáu cục pin. Chúng tôi sử dụng đèn trong hành quân thật tiết kiệm và cũng đề phòng máy bay địch trinh sát thấy. Vậy mà lúc đầu cũng gà mờ lắm. Nghe máy bay thay gì tắt ngay. Đằng này lại lính quýnh đưa đèn lên trời quơ quơ lại bị bộ đội hét. “Tắt đèn đi, quơ đèn làm gì? Bộ gián điệp hả?gọi máy bay lại bắn phá à?” Sợ hết hồn chẳng còn nhớ công tắt chỗ nào mà tắt. Lật đật ôm vào trong bụng để che sáng.
Dần dà chúng tôi càng đi càng trưởng thành càng thích nghi. Vào đời bằng con đường Trường Sơn vạn dặm đã giúp chúng tôi vươn lên bay cao, bay xa trong cuộc đời nhà giáo, chiến sĩ của mình. Chúng tôi đã có tình đồng chí, đồng đội, bạn bè đoàn kết thương yêu nhau hết mực sẻ chia nhau từng nắm cơm, hạt muối, ngọn rau. Trường Sơn là người thầy dạy cho chúng tôi biết hy sinh vì người khác, dạy cho chúng tôi biết danh dự và tình người lớn hơn mạng sống. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết:
“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”.
Quê tôi Đồng Nai nên tôi được phân công công tác tại T1 (phân khi miền Đông), Tiểu ban giáo dục. Tháng 6/1966 tôi được em giao liên tên Thảo của tổ chức phân khu miền Đông đón về căn cứ của Ban Tuyên huấn miền Đông gần sân lễ Phước Thành. Tại đây chưa được phân công gì, nghỉ ngơi và đi tải gạo. Suốt Trường Sơn tôi không bị sốt rét tưởng rằng mình đã được miễn dịch với bệnh này, nên đi tải gạo về, còn mồ hôi, nóng nực quá, ra suối gặp nước suối trong mát cứ thế nhào xuống vẫy vùng. Thế là hôm sau cảm, sốt rồi chuyển qua sốt rét. Sốt rét kéo dài gần 3 tháng triền miên. Không ăn uống gì được. Ngửi mùi củ cải khô xào mỡ, dưa gang xào mỡ là ói tới mật xanh, mật vàng. Cám ơn em Ánh, y tá đơn vị đã hái lá xông, cho tôi xông. Cho uống co-lo-rua-kin, chích nivakin liên tục. Dần dần đỡ bệnh nhưng ốm nhôm, ốm nhách, lại thêm điếc điếc, lát lát, nghểnh ngản nữa chứ. Bệnh không ngủ được. Nửa đêm nghe cúc kêu, buồn ơi là buồn.
Đỡ bệnh đơn vị rước về căn cứ mới qua lộ ủi Trần Lê Xuân. Tôi mới đặt ba lô xuống anh Ngà cùng học sinh miền Nam, trước đó biết mặt tại Đại học sư phạm bảo tôi. “Yến Thu nhóm lửa, nấu cháo để anh ra rừng tìm vài con thịt về đãi mọi ngườ”i. Anh nói như là thú rừng đang nhốt ngay sau rừng, tôi còn loay hoay với nồi cháo chưa kịp xôi anh đã đem về hai con dọc, một con nhím và một con trúc. Tiểu ban giáo dục được một bữa liên hoan đón thành viên nữ mới.
Tôi với anh Ngô Thành cùng công tác với nhau tại tiểu ban giáo dục miền Đông đến cuối năm 1966. Sau đó anh Ngô Thành được phân công về công tác Bà Rịa – Vũng Tàu. Lúc này Tiểu ban giáo dục miền Đông đã cử nhiều cán bộ tăng cường cho các địa phương như anh Trần Thanh Đáo, anh Chín Ngà đi Thủ dầu một, Hà Vĩ đi bộ đội. Anh Trịnh Văn Chữ , anh Nhượng thì đi Tây Ninh.
Hơn hai năm cùng vượt Trường Sơn,cùng công tác một đơn vị, nay tiễn anh Ngô Thành về Bà Rịa – Vũng Tàu rất là quyến luyến. Chiều nghe anh Thành trên đường đi đụng biệt kích chẳng biết có được an toàn không. Mấy ngày nay đơn vị thất thỏm trông ngóng tin tức. Một ngày, hai ngày, ba ngày không thấy tin gì, đơn vị đang định làm truy điệu cho anh thì chạng vạng hôm thứ ba anh Ngô Thành lò dò trở về, gặp anh mọi người mừng quá! Mọi người nói đùa Ngô Thành chạy giỏi hơn biệt kích! Chừng tháng sau anh Ngô Thành lại về Bà Rịa – Vũng Tàu. Lần này thì đi đến nơi về đến chốn.
Năm 1966 các cơ quan của phân khu miền Đông đều tổ chức học bổ túc văn hóa. Anh Thoa được phân công sang khu ủy để dạy văn hóa cho anh 5 Chữ. Tôi nhận dạy văn lớp 5 cho cơ quan, học viên có gấm Trần Thanh Nam giám đốc Sở công an Bình Dương, Thanh Vân, Hồng Vân, Cường, Thanh, số học viên này đã tham gia kháng chiến hai ba năm rồi, còn trẻ là giao liên, văn phòng, đánh máy của cơ quan. Sau một ngày làm việc bốn giờ chiều là các em có mặt đầy đủ, học hành nghiêm túc, chăm chỉ. Được dạy những em này tôi rất vui, đem hết nhiệt tình và kiến thức để trang bị cho các em, các em này trong quá trình chiến đấu một số đã hy sinh ở nhiều thời gian khác nhau. Cường bị máy bay trinh sát bắn roockét hy sinh trên đường công tác, Thanh Vân bị bom B2…số còn lại sau này được ra Bắc học tiếp và trưởng thành như gấm Trần Thanh Nam, Thiếu tướng giám đốc Sở công an Bình Dương giờ đã nghỉ hưu.
Ngoài ra tôi còn được phân đi dạy bên Mặt trận gồm công vận, nông vận, phụ vận, thanh vận, hoa vận. Một tuần dạy ba buổi. Buổi nào tôi đi dạy đều có giao liên đưa đi đón về. Qua dạy bên Mặt trận được các cơ quan yêu quý. Các anh chị ở đây cũng chịu khó học tập lắm. Số anh chị em trẻ ở đơn này sau tiếp tục học có người đã thành bác sĩ và có một người làm đến bộ Trưởng.
Dù vừa xây dựng căn cứ, đào hầm bí mật, cất nhà, tải gạo, phòng chống biệt kích đội ngũ giáo viên vẫn làm tròn nhiệm vụ của mình. Năm mươi năm nhìn lại, đánh giá được đội ngũ giáo dục mà miền Bắc tăng cường cho miền Nam ta làm tròn được nhiệm vụ của người thầy trong chiến tranh chắc tay súng, vững tay bút. Làm người chiến sĩ trung kiên. Làm nhà giáo mẫu mực, giỏi chuyên môn, dù tài liệu giảng dạy thiếu thốn nhưng vẫn làm tròn nhiệm vụ của người giáo viên. Một số anh em giáo viên đi B đã hy sinh anh dũng trong chiến tranh. Tuy tập họp chưa đủ nhưng tại bia tưởng niệm ở Tây Ninh đã hơn sáu trăm anh chị em liệt sĩ giáo dục vừa tại chỗ vừa chi viện. Còn anh chị em sống sót qua chiến tranh sau này đất nước thống nhất đã đóng góp được phần công sức phát triển ngành giáo dục ngày càng hội nhập cùng khu vực và quốc tế, phục vụ cho chiến lượt công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do đó anh dùng lao động Vũ Khiêu có viết:
“Đạo làm thầy mãi mãi nêu cao
Gương trí thức đời đời sáng tỏ”.
Thành phố, Hồ Chí Minh, ngày 9 tháng 9 năm 2012
Nguyễn Thị Yến Thu