Mấy suy nghĩ về con người và giáo dục –
Nguyễn Văn Thành
Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong ca khúc Tôi ơi, đừng tuyệt vọng đã có những ca từ mang đầy chất triết lý để tự hỏi về khái niệm con người: “Tôi là ai mà còn trần gian thế, tôi là ai, là ai mà yêu quá đời này…”. Những câu hỏi “Tôi là ai” sâu xoáy trong lòng người về sự hiện hữu của con người trong cõi trần đời này. Đi tìm khái niệm về con người đã từ lâu luôn là sự khắc khoải của biết bao thế hệ, từ Dercartes với “Tôi tư duy là tôi tồn tại” đến William Shakespeare “To be or not to be” (tồn tại hay không tồn tại) hay với Xuân Diệu “Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhứt” cũng là lời minh triết để khám phá con người. Vậy con người là gì ?
I. KHÁI NIỆM CON NGƯỜI
Tự bao giờ khái niệm “con người” vẫn chưa tìm được sự thống nhất trong định nghĩa. Mỗi bộ môn khoa học có cách hiểu riêng về khái niệm con người. Đối với triết học, con người là một thực thể sinh vật – xã hội. Chỉ với khái niệm cô đọng, ngắn gọn đó đã mở ra biết bao vấn đề cần nghiên cứu.
1. Con người là một thực thể sinh học
Vậy thì con người cũng là loài động vật với những nhu cầu bản năng tự nhiên của nó. Mà đã là nhu cầu thì không thể triệt tiêu được mà phải tìm cách thỏa mãn nhu cầu. Đó là một quy luật tất yếu. Trong câu chuyện khá ý vị khi Darwin, cha đẻ thuyết tiến hóa đã xác định con người thoát thai từ loài vượn người, qua quá trình lao động để tiến hóa thành người hiện đại, điều đó đã tạo nên làn sóng phản đối của giới quý tộc đương thời. Vì theo họ con người là sự hoàn thiện của hóa công, là sản phẩm tuyệt vời của thượng đế thì không thể có cội nguồn từ loài vượn nào đó. Chính vì thế trong câu chuyện một bà quý tộc người Anh mở tiệc rượu để chiêu đãi các thượng khách và có mời cả nhà bác học Darwin đến dự. Trong lúc nâng ly khai mạc, bà đã đến bên cạnh Darwin với lối chào đầy kiểu cách và lên tiếng: “Thưa ngài, hình như ngài vừa phát minh con người từ loài vượn mà ra.”, kèm theo đó là tiếng cười nhạo báng của các thượng khách vang lên. Đúng là chỉ có phiêu lưu trong tình huống ấy mới dám nghĩ những con người đẹp đẽ quyền quý thế kia lại từ loài khỉ mà ra. Nhà bác học Darwin hết sức điềm đạm nở nụ cười tươi tắn, bao ánh mắt đổ dồn về nhà bác học. Ông trả lời: “Thưa bà đúng vậy, con người vốn từ loài vượn người tiến hóa mà thành. Riêng bà vốn thuộc loài vượn đẹp”. Một câu trả lời rất độc đáo. Tất nhiên là một thực thể sinh vật con người chưa có nhu cầu về cái đẹp mà chỉ có những nhu cầu bản năng. Chỉ khi đạt đến sự phát triển ý thức và đặt trong mối quan hệ với cộng đồng loài người thì sự cảm nhận về cái đẹp mới hình thành và mỹ học ra đời theo nhu cầu xã hội.
Đi tìm vị trí con người trong cõi vô thường, cõi người ta này chính là đặt con người trong mối quan hệ xã hội tồn tại của nó.
2. Con người là một thực thể xã hội
Con người khi thực hiện nhu cầu bản năng luôn chú ý đến những đòi hỏi của cộng đồng. Đây là biểu hiện tính xã hội của con người. Hiểu một cách đơn giản thì con người gồm phần “con” + phần “người”. Phần “con” là thực thể sinh vật, phần “người” là thực thể xã hội. Sự kết hợp con và người luôn cộng hưởng với nhau. Dấu gạch nối giữa sinh vật – xã hội trong định nghĩa là sự kết hợp bền vững. “Con” làm tiên đề cho “người”, “người” chi phối điều tiết hoạt động của “con” để trở thành thực thể “con người”.
Khai phá bản chất con người, những nhà triết học phương Đông đã đưa ra vấn đề thiện – ác. Theo Khổng Tử: “Nhân chi sơ tính bản thiện”. Bản chất con người vốn là thiện. Còn Cáo Tử (Khoảng thế kỷ 4 trước CN) lại cho rằng: “Tính người ta như nước chảy quanh vậy, khơi sang đông thì chảy sang đông, khơi sang tây thì chảy sang tây; tính người không phân biệt thiện với bất thiện, cũng như nước không phân biệt phương đông với phương tây vậy”. Ngược lại Mạnh Tử (372-289 trước CN) lập luận: “Nước đành là không phân biệt phương đông, phương tây, nhưng lại phân biệt chỗ cao chỗ thấp đấy ư ? Tính người ta vốn thiện cũng như nước vốn chảy chỗ thấp; tính người ta không có người nào là chẳng thiện, nước không có nước nào chẳng chảy chỗ thấp. Nay nước kia đập mà cho bắn lên, có thể khiến vọt qua trán, ngăn lại mà cho đi ngược, có thể khiến tràn đến núi; ấy phải cái nguyên tính của nước thế đâu, vì cái thế đập bị ngăn thì nó mới như vậy; người ta mà khá khiến làm điều bất thiện, vì cái tính nó bị vật dục che lấp cũng như nước bị người ta đập hay ngăn đi vậy” (Mạnh Tử - Thiên Cáo tử thượng, chương 11).
Vấn đề thiện – ác của con người sẽ còn nhiều tranh luận, Trang Tử (cùng thời Mạnh Tử) có nói: “Nhất nhật bất niệm thiện, chư ác giai tự khởi”, song một điều mà nhiều nhà giáo dục công nhận rằng con người vốn như tờ giấy trắng và chính cuộc đời đã vẽ những nét phác họa đầu tiên để hình thành nhân cách. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh : “Lành dữ phải đâu là tính sẵn - Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Từ những vấn đề trên ta có thể nhận thấy rằng, mối quan hệ tương tác giữa con người và môi trường xã hội là một tất yếu, đặc biệt vai trò giáo dục trong quá trình hình thành nhân cách con người.
Trong quan niệm biện chứng, những nhà lý luận Macxist đã định nghĩa về bản chất con người như sau: “Trong tính hiện thực của nó, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Từ ý nghĩa thực tiễn, con người là con người xã hội, con người tồn tại và phát triển trong môi trường xã hội nhất định. Sẽ không có con người chung chung mà là con người cụ thể của thời đại cụ thể. Những gì tiềm ẩn trong con người đều có trong xã hội và ngược lại những gì có trong xã hội sẽ có trong cá thể con người. Đó là mối quan hệ tương tác biện chứng.
II. CON NGƯỜI VÀ GIÁO DỤC
Việt Nam nằm giữa 2 nền văn hóa lớn của thế giới là Ấn Độ và Trung Hoa, và trong quá trình biến thiên lịch sử, những vấn đề tín ngưỡng, tập tục, thói quen, phong cách, lối sống… đều ảnh hưởng sâu sắc của triết học phương Đông, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục.
1. Giáo dục Nho giáo
Các nhà sư phạm thời trung cổ của Việt Nam là từng lớp trí thức, hấp thu nền Nho học và tư tưởng Phật học, Lão học. Mục đích của việc học chữ Nho ngày xưa không chỉ là để thông hiểu văn tự, mà trước tiên là học cương thường đạo nghĩa “Tiên học lễ, hậu học văn”. Chính mục đích chú trọng về luân lý ấy, nên trong sách giáo khoa từ những bài dễ đến khó đều là bài học luân lý, dạy một chữ, một câu là dạy một điều đạo nghĩa cương thường. Những bộ sách như Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Sơ học vấn tân, Ấu học ngũ ngôn thi… đến Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn, Tam tự kinh đều nói về tính người, về sự giáo huấn, nghi lễ, hiếu đễ, bổn phận làm người.
Suốt chuỗi thời gian ngót 700 năm (thời kỳ tự chủ của dân tộc), Nho giáo là quốc giáo. Việc giáo dục trung hiếu tiết nghĩa của người xưa là đạo lý lớn nhất của con người trong vũ trụ, trong cộng đồng. Bậc chính nhân quân tử khát khao, tôn thờ lý tưởng “thượng trí quân, hạ trạch dân”, thực hiện đạo cương thường, đạo nghĩa ở đời, an bang tế thế.
1.1. Tam cương, ngũ thường
1.1.1 Tam cương
Đó chính là ba giềng mối quan trọng bậc nhất trong xã hội. Đó là đạo quân - thần (Chữ TRUNG: quân xử thần tử, thần bất tử bất trung), đạo phụ - tử (chữ HIẾU: Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu), đạo phu – thê (chữ TÒNG: Phu xướng phụ tỳ). Ba giềng mối đó đã chi phối toàn bộ đời sống xã hội “Có trung hiếu thời đứng trong trời đất – Không công danh thà nát với cỏ cây” (Nguyễn công Trứ) hay “Trai thời trung hiếu làm đầu – Gái thời tiết hạnh là câu trau mình” (Nguyễn Đình Chiểu). Theo quan niệm Nho giáo, xã hội tốt đẹp là một xã hội có kỷ cương, tôn ty trật tự trong đẳng cấp, theo đó xã hội loài người có 5 cặp quan hệ cơ bản gọi là ngũ luân, gồm quân - thần, phụ - tử, phu – thê, huynh – đệ, bằng hữu. Thậm chí có những lúc người ta xem “huynh đệ như thủ túc, phu thê như y phục”. Đây là mối quan hệ một chiều, mệnh lệnh trên cơ sở phục tùng và đặc biệt là hạ thấp giá trị người phụ nữ trong xã hội. Cái tôn ti trật tự ấy đã tạo ra biết bao bi kịch trong đời sống xã hội mà chữ trung mù quáng của Lý Trần Quán (một danh sĩ cuối đời Hậu Lê) là một bằng chứng sâu sắc, hay biết bao bi kịch gia đình vì chữ tòng nghiệt ngã mà bao thân phận người phụ nữ phải trầm luân.
1.1.2 Ngũ thường
Để hoàn chỉnh con người, Nho giáo đã giáo dục đạo ngũ thường: nhân - lễ - nghĩa - trí – tín. Đó là 5 đức tính của con người trong xã hội phong kiến. Thời Khổng Tử chỉ đưa ra nhân, trí, dũng. Theo Khổng Tử, bậc quân tử phải đạt được 3 cái đức này. Trí là để hiểu rõ các sự lý, nhân là hiểu biết điều lành mà làm, dũng là để có cái khí cường kiện mà làm theo điều thiện đến cùng. Thời Mạnh Tử đã thay chữ dũng thành lễ và nghĩa, đến cuối đời Chiến quốc, nhà Tần bị tiêu diệt, nhà Hán trị vì thiên hạ, các bậc Hán Nho đã thêm vào chữ tín và trở thành ngũ thường đến ngày nay.
- Nhân: là đức tính quan trọng nhất của con người, là cách đối xử với người khác cho hợp đạo lý thánh hiền. Khổng tử từng dạy : “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”. Trong tứ thư nêu rõ tôn chỉ của người quân tử là : “Đại học chi đạo tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện” (sách Đại học) nghĩa là : Cái đạo của người theo bậc đại học là cốt làm cho cái đức sáng, cải hóa người dân, cốt dừng lại ở cõi chí thiện. Người quân tử phải sửa sang cái đức tính của mình rồi cảm hóa người khác, hướng đến cái thiện đó cũng là điều nhân “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Cách nhìn ấy mang đầy tính nhân văn sâu sắc.
- Nghĩa: là đức tính đối với chính mình, là nghĩa vụ, trách nhiệm mà con người phải thực hiện đối với bản thân xã hội. Khổng tử từng dạy con người thành nhân phải biết tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Trong sách Đại học có câu: “Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản” (Từ ông vua cho đến kẻ thường dân, ai nấy đều lấy việc sửa mình làm gốc). Muốn thực hiện chữ nghĩa trước hết cách vật, trí tri, thành ý, chánh tâm (thấu hiểu nguyên lý sự vật, tinh thông mọi lẽ, sự vật, thành thực, lòng ngay thẳng) đó là cái đạo của người quân tử. Thực hiện chữ nghĩa cũng là cách khẳng định tính cách bậc chính nhân quân tử: “Kiến ngãi bất vi vô dõng dã”.
Về cơ bản chữ nghĩa thể hiện ở 4 điều : “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, ân tình bất năng vưu” (giàu có không dâm dật, nghèo khổ không trộm cắp, không bị khuất phục trước kẻ mạnh, sống có ân tình).
Thực chất nhân nghĩa của Nho giáo chính là đề cao quan niệm trung quân, xây dựng một nền nếp xã hội theo trật tự phong kiến, là sự phục tùng ý chí và mệnh lệnh của cá nhân mà cụ thể là của vua. Dẫu biết cá nhân chỉ là hữu hạn, cuộc sống là vô hạn, thế nhưng trong kỷ cương của Nho giáo, lễ không đến thứ dân, hình phạt không đến với bậc đại phu, nên chỉ là mệnh lệnh một chiều, buộc người thực hiện phải cúi đầu phục tùng, mà đó chính là điều bất nhân nhất.
- Lễ: Là hệ thống những yêu cầu, đòi hỏi đối với cuộc sống con người, là những nghi thức, cung cách của bậc quân tử, là cách sống của kẻ thứ dân. Trong toàn bộ hệ thống triết học cũng như giáo dục của Nho giáo gói trọn trong 2 bộ Tứ thư và Ngũ kinh (nguyên thời Khổng Tử có lục kinh : Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu. Nhưng do chính sách đốt sách của Tần Thủy Hoàng nên bộ kinh Nhạc bị mất đi và chỉ còn 1 thiên, sau đem vào sách Lễ ký đặt thành thiên Nhạc ký) . Trong Ngũ kinh có 1 kinh rất quan trọng đó là Lễ Ký (Kinh Lễ) dùng để ghi chép về các lễ nghi trong gia đình, hương đảng và triều đình do Khổng tử san định. Chữ Lễ đi vào đời sống xã hội thành một chuẩn mực đạo đức khắt khe. Nó quy định những hành vi con người từ nhỏ nhất đến những việc to lớn trong đời sống con người, xã hội. Từ cách ăn mặc đi đứng (ăn trông nồi, ngồi trông hướng) đến cách cư xử ở đời (học ăn, học nói, học gói học mở), các mối quan hệ trong gia đình như cha con, chồng vợ, anh em, phụng sự tổ tiên, ma chay, lễ bái … đến quan hệ xã hội trong cộng đồng làng xã, triều đình ( hội kỳ yên, sự tế tự, chùa chiền …), cách cai trị của các bậc vua chúa, đại phu … Lễ nghi Nho giáo chia ra làm ngũ lễ: Cát lễ (nghi lễ vui chơi, hội hè), hung lễ (nghi lễ đau buồn), quân lễ (nghi lễ của quân đội), gia lễ (nghi lễ gia đình), tân lễ (nghi lễ tiếp khách).
Xã hội phong kiến vốn là một xã hội mang đậm tính đẳng cấp, nên việc giáo dục chữ lễ hết sức được chú trọng. Khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” trở thành điều tâm tiệm của những người cầm bút. Đây là nét tích cực, tiến bộ của xã hội phong kiến. Mặc dầu còn nhiều điều cầu kỳ, rườm rà, nặng phần nghi thức nhưng không thể xem thường cách giáo dục chữ lễ của Nho giáo. Chính cách giáo huấn ấy đã hướng con người từ cách ăn, mặc, ở (Ở sao cho vừa lòng người - Ở rộng người cười ở hẹp người chê), hoàn thiện nhân cách, đề cao phẩm chất đạo đức, đồng thời cũng thể hiện nét văn hóa đặc sắc của dân tộc. Trong Phong tục Việt Nam của Phan Kế Bính đã ghi lại khá phong phú về tập tục đồng thời kèm theo những lời bình đầy giá trị. Câu chuyện dã sử được truyện tụng đến ngày nay về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của người anh hùng Lê Lợi năm xưa. Giữa cảnh đau khổ lầm than của nhân dân trong cảnh “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn – Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ” (Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi), giữa mịt mùng thời thế, biết bao anh hùng hào kiệt đi tìm minh chủ để tôn thờ hầu thực hiện ước mơ đánh đuổi giặc Minh, giành tự chủ dân tộc. Lần đầu, Nguyễn Trãi cùng Trần Nguyên Hãn đến Lam Sơn và gặp hào phú Lê Lợi đang ngồi thái thịt, thỉnh thoảng Lê Lợi bốc miếng thịt bỏ vào miệng nhai. Nguyễn Trãi cùng Trần Nguyên Hãn quay về vì trong quan niệm xưa, người quân tử thì không làm những việc nhỏ nhặt như vậy, hơn thế nữa cách ăn uống ấy chưa thể hiện phong thái của đấng chí tôn. Mãi đến một thời gian sau, khí hào khí Lam Sơn tạo được thanh thế, Nguyễn Trãi mới tìm đến Lam Sơn lần nữa và dâng Bình Ngô sách. Hay một ví dụ khác do đặc trưng về mặt địa lý sông ngòi chằng chịt phù hợp với nền văn minh lúa nước, kết hợp với bãi biển dọc suốt chiều dài đất nước nên nhu cầu trị thủy rất lớn. Chính vì thế cũng đã tác động đến cách ăn uống sinh hoạt, tạo thành nét văn hóa riêng biệt. Một ví dụ nhỏ như cách ăn cá món cá, người ta bắt đầu ăn từ phần bụng cá rồi dần đến đuôi cá và sau đó là sống lưng (vì sống lưng là phần ngon nhất). Khi ăn hết một nửa của con cá cắt theo chiều dọc, người ta dùng đũa tách lớp xương cá ra và tiếp tục ăn nửa phần còn lại, tuyệt đối không lật úp một nửa phần cá xuống mặt đĩa. Đó là điều kiêng kỵ của người dân sông biển vì hình ảnh lật úp con cá gợi cho người dân lo sợ về điềm gỡ lật thuyền. Thế mới biết những nghi thức, sinh hoạt của Nho giáo xưa kỹ càng biết dường nào. Ngay cả trong tang lễ, khi làm lễ bái quan xong, đưa quan tài ra khỏi cửa, những người đạo tỳ cho quan tài vái vào nhà 3 vái để chào vĩnh biệt nơi mình sinh sống, rồi khi ra đến đầu ngõ, lại tiếp tục cho quan tài vái tiếp 3 vái để chào vĩnh biệt bà con lối xóm. Đây là một nghi lễ đậm đà tính nhăn văn mà chúng ta cũng cần gìn giữ.
Ngày nay, trong giáo dục, chúng ta chú tâm quá nhiều đến truyền thụ tri thức (dạy chữ) mà xem nhẹ phần rèn luyện thói quen, cách hành xử trong cộng đồng (dạy người). Giáo viên chạy theo chương trình sách giáo khoa, chạy theo các tiết thao giảng, dự giờ mà quên đi những căn bản nhất như cách ngồi, cách cầm viết, cầm sách, đi đứng nghiêm chào, phát biểu của học sinh. Đừng trách vì sao học sinh bị cận thị, vẹo cột sống hay nói năng cộc lốc, không biết thưa trình, lễ phép với người lớn … Vì các em có được giáo dục, rèn luyện đầy đủ đâu. Có một thực tế là phong trào thi đua giáo viên giỏi, học sinh giỏi các bộ môn ngày càng nhiều mà đạo đức học sinh đang suy thoái, chúng ta mãi lo truyền thụ những tri thức cao siêu mà quên đi những điều thật đơn giản song lại đầy tính nhân bản, quên đi những giá trị truyền thống thì chẳng khác nào xây nhà giáo dục con người lại bắt đầu từ nóc. Hồ Chủ Tịch đã từng nói : “Người có tài mà không có đức là người vô dụng, người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Đức là yếu tố quan trọng và quyết định của con người.
Chỉ nhìn ở cấp THCS, sách giáo khoa về bộ môn Giáo dục công dân là bộ sách mỏng nhất, trình bày sơ sài nhất, và kiến thức thì đơn giản nhất trong tất cả các sách giáo khoa, thì liệu có nâng được điều gì về khái niệm “Tiên học lễ, hậu học văn” mà các trường thường được xem là một tiêu chí hành động, mục đích giáo dục chăng ?
- Trí: là sự hiểu biết về nguyên lý về thiên đạo (đạo trời), nhân đạo (đạo làm người) để trên không oán trời, dưới không trách người. Phải học cho rộng, suy xét cho sâu, phân biệt trái phải, dốc lòng làm điều thiện. Chữ trí trong quan niệm xưa là biết được rõ cái đức tính của trời thì biết được rõ cái tính của người, biết được rõ cái tính của người, thì biết được rõ tính của vạn vật; biết được rõ tính của vạn vật thì khả dĩ giúp được sự hóa dục của trời đất và được xem như bậc chí thánh vậy. Xem ra chữ trí không phải dễ thực hiện. Con người xưa được giáo dục để thông suốt tứ thư, ngũ kinh, am tường văn nghĩa và thấu hiểu đạo lý thánh hiền là việc thực hiện chữ trí. Ngày nay, theo tiêu chí của UNESCO : “học để biết, học để làm việc, học để cùng chung sống, học để khẳng định mình”. Chữ trí ngày nay và ngày xưa cũng có nhiều khác biệt về cách nghĩ, tuy nhiên nhìn chung vẫn là việc tiếp thu tri thức và vận dụng tri thức trong cuộc sống, là thái độ hành xử của người xưa, là việc ứng dụng trong cuộc sống cộng đồng, là mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và tập thể.
- Tín: là đức tin của con người biết trọng lời hứa và biết tin nhau. Xã hội Nho giáo vốn mang nặng tính đẳng cấp nên chữ tín càng được tôn trọng. Vì chữ tín người ta chấp nhận hy sinh bản thân mình. Câu chuyện Kinh Kha qua sông Dịch Thủy để thích khách Tần Thủy Hoàng cũng vì chữ tín với Thái Tử Đan hay chuyện Bá Nha, Tử Kỳ, ngoài tình bằng hữu còn là chữ tín mà Bá Nha phải đập cây đàn khi Chung Tử Kỳ lìa cõi trần, chấm dứt tiếng đàn huyền thoại. Thế mới thấy người xưa trong chữ tín đến nhường nào. Trong 5 đức tính của người quân tử mặc dù chữ tín xuất hiện muộn nhất nhưng là một nét đẹp, nét văn hóa của con người. Đặc biệt là trong thời kỳ kinh tế thị trường ngày nay, chữ tín càng được đề cao giá trị, chữ tín trong thương trường, chữ tín trong quan hệ quốc nội, quốc tế.
Vậy người giáo viên phải làm gì, phải giáo dục như thế nào về chữ tín cho học sinh. Có những lúc thầy cô giáo chúng ta còn xem nhẹ chữ tín, việc lên lớp không đứng giờ, lỗi hẹn với các em trong các buổi học phụ đạo, trong các đợt trả bài kiểm tra … Ban Giám hiệu dự giờ không đúng như thông báo, các kế hoạch thực hiện không đúng tiến độ … là việc làm phải gọi đúng tên là thất tín
1.2 Tam tòng, tứ đức
Tam cương ngũ thường là cách giáo dục dành cho đấng tu mi nam tử, thì người phụ nữ được giáo dục trong khuôn phép tam tòng, tứ đức.
1.2.1 Tam tòng:
Là 3 quy định mà người con gái phải chấp hành vô điều kiện để đạt được chữ hiếu, chữ tiết, đạt được đạo lý làm người. Đây là một quy định hết sức khắc nghiệt đã bóp chết quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người.
“Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Đó là cái vòng kim cô để bóp chết mọi ý thức về quyền sống, quyền làm người của người phụ nữ. Người con gái khi trong gia đình phải vâng lời cha. Mọi việc trong cuộc sống đều do cha định đoạt. Ngay cả vấn đề hôn nhân thì cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, rồi đến khi lấy chồng thì vâng lệnh chồng, thân phận người phụ nữ bị trói chặt trong xó bếp, chỉ biết nghe, vâng lời chớ không dám cãi. Chẳng may chồng mất sớm phải thủ tiết thờ chồng, chôn vùi khao khát tuổi xuân, chôn vùi những nhu cầu tất yếu của con người. Ca dao Việt Nam đã để lại hình ảnh sâu sắc ý nhị về hình ảnh hai người phụ nữ đã thốt lên:
“Má ơi con muốn lấy chồng
Con ơi má cũng một lòng như con.”
Thoạt nghe ta có cảm giác như lời nói của hai mẹ con hư thân trắc nết, nhưng nếu hiểu được ta mới cảm thấy tính nhân bản sâu sắc mà đồng thời nghe cảm giác đau buồn xót xa cho thân phận hai người đàn bà góa bụa, một bà mẹ chồng và cô con dâu trẻ. Cái bi kịch của cả hai khao khát hạnh phúc lứa đôi, nhưng tuổi xuân bị chôn vùi, phải thủ tiết thờ chồng. Trong giây phút ấy, cái thành kiến nghiệt ngã mẹ chồng nàng dâu đã tan biến chỉ còn nghe những giọt nước mắt đắng cay đọng lại và tiếng lòng thổn thức của con tim rạo rực sức sống nhưng bị trói chặt trong lễ giáo nghiệt ngã. Chồng chết phải ở vậy phục vụ cho con, quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc, khát vọng rất người giữa đời thường kia bị định kiến bóp chết. Biết bao tấn bi kịch mà người phụ nữ phải gánh chịu trong xót xa cay đắng của kiếp làm người.
Đạo tam tòng của Nho giáo để duy trì trật tự phong kiến nam tôn nữ ti là hạn chế của Nho giáo. Trong suốt chặng đường dài của lịch sử, xây dựng trật tự phong kiến với kỷ cương kiểu mẫu Nho giáo, vô hình trung đã tạo ra biết bao bi kịch mà trái tim nhân hậu của Tố Như đã xót xa thốt lên:
“Đau đớn thay, phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.”
( Truyện Kiều )
Và phải đến Cách mạng Tháng Tám, một cuộc tái sinh mầu nhiệm, để người phụ nữ được khẳng định quyền làm người trong cõi nhân sinh này.
1.2.2 Tứ đức:
Tứ đức là 4 đức tính trong nền giáo dục của Nho giáo để giáo huấn người phụ nữ. Đây là một nét đẹp, đồng thời cũng là nét văn hóa đáng trân trọng. Người phụ nữ phải thể hiện công, dung, ngôn hạnh trong sinh hoạt cá nhân cũng như cộng đồng làng xã, làm nở mặt chồng con, gia tộc, họ hàng. Những lời khuyên dạy của cha mẹ dành cho con gái trước khi lấy chồng vẫn còn đấy giá trị nhân văn cao đẹp :
“Dù no dù đói cho tươi,
Khoan ăn, bớt ngủ, liệu bề lo toan
Phòng khi đóng góp việc làng
Đồng tiền bát gạo sửa sang cho chồng
Trước là đặng nghĩa cùng chồng
Sau là họ mạc cũng không chê cười. “
(Mẹ khuyên con gái – ca dao Việt Nam)
- Công: là sự khéo léo, là vẻ đẹp về quán xuyến công việc gia đình, biết tổ chức và thực hiện những việc tề gia nội trợ, thêu thùa, may vá, có chút ít tài đàn hát, thơ văn và đặc biệt là chăm lo chồng con “vượng phu ích tử”. Có lẽ người phụ nữ xưa không được giao tiếp trong cộng đồng nên sự đòi hỏi về chữ công cũng không rộng lớn nhưng lại là đức tính, là tiêu chí đầu tiên cần thiết để thực hiện thiên chức người phụ nữ.
- Dung: là dáng mạo, là vẻ đẹp về ngoại hình. Mỗi thời đại đều có cách đánh giá về cái đẹp khác nhau và nhất là cuộc sống hiện đại ngày nay. Song trong quan niệm mỹ học của các Nho gia thì cái đẹp hình thể người phụ nữ thể hiện ở quy tắc ước lệ, mượn chuẩn mực của thiên nhiên làm thước đo, ví dụ người con gái đẹp phải mặt hoa da phấn, mắt phượng mày ngài, dáng vẻ thanh mảnh của “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” hay “Khuôn trăng đầy đạn nét ngài nở nang” (Nguyễn Du). Vẻ đẹp người phụ nữ trong thời đại phong kiến là hình ảnh của những cô gái trắng, cao, hơi gầy kiểu “Chênh vênh vóc nguyệt, thân gầy liễu dương”, “yểu điệu thục nữ”. Đối với nhân dân lao động thì đó là vẻ đẹp của các cô gái “thắt đáy lưng ong”, xắn váy quay cồng” để quán xuyến các công việc gia đình, đồng áng. Song trong đạo đức phong kiến, điều đáng trân trọng chính là “Cái nết đánh chết cái đẹp”.
- Ngôn: là lời ăn tiếng nói phải đạt chuẩn mực. Lời lẽ người phụ nữ xưa phải nhẹ nhàng kiểu “Hoa cười ngọc thốt đoan trang”, phải biết lựa lời mà nói cho hợp lòng người. Việc chưa nói đã cười, chưa đi đã nhảy là những điều đố kỵ. Nền giáo dục phong kiến đã xây dựng được hình ảnh rất đẹp về những phẩm chất cao quý, về công dung ngôn hạnh để trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Từ những lời nói ngọt ngào dịu dàng của người phụ nữ được giáo huấn đã tạo ra những nhân vật góp phần tô thắm lịch sử như Thái Hậu Dương Vân Nga, Nguyên Phi Ỷ Lan và biết bao nhiêu người phụ nữ khác nữa. Chính tính yếu tố tạo nên “nhi nữ tình trường, anh hùng khí đoản” cũng một phần là chữ ngôn dịu dàng đáng yêu của người phụ nữ Việt Nam : “Một thương tóc bỏ đuôi gà - Hai thương ăn nói mặn mà có duyên” là vậy.
- Hạnh: là tính nết, phẩm hạnh của người phụ nữ. Một trong những phẩm hạnh cao quý nhất của người phụ nữ là việc thực hiện chữ tòng, là chữ hiếu, là lòng thủy chung, giữ gìn tiết hạnh, chăm lo con cái. Phẩm hạnh người phụ nữ được thể hiện trong các công việc gia đình, là sự an phận, cam chịu trong số kiếp :
“Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.”
(Ca dao)
Hay kiểu “Lặn lội thân cò nơi quãng vắng – Eo sèo mặt nước buổi đò đông” và cũng chính họ cảm nhận “ Một duyên hai nợ âu đành phận – Năm nắng mười mưa dám quản công” (Trần Tế Xương).
Chữ hạnh của người phụ nữ Việt Nam còn là tấm lòng độ lượng, vị tha, giàu đức hy sinh, ngay cả trong hạnh phúc vợ chồng, người vợ luôn chiều chồng, thậm chí hy sinh hạnh phúc riêng tư của mình để vun vén cho chồng. Nếu người phụ nữ bạc phận không sinh được con trai, họ sẵn sang ngậm đắng nuốt cay cưới vợ lẽ cho chồng để mong có con nối dõi tông đường. Đó phải gọi là đức hy sinh vô biên mà chỉ có tấm lòng quảng đại bao dung mới thực hiện được.
Trong cuộc sống ngày nay, gạt bỏ đi một vài yếu tố không phù hợp nhưng ý thức về tứ đức, việc gìn giữ công, dung, ngôn, hạnh cũng là yêu cầu xã hội. Đó là bản sắc dân tộc cần trân trọng và phát huy.
2. Giáo dục Phật giáo
Về cơ bản, Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà còn là một hệ thống triết học tương đối hoàn chỉnh. Nếu như Nho giáo hướng con người vào con đường nhập thế hành đạo là chủ yếu (Nho giáo có hai bộ hình nhi thượng và hình nhi hạ. Trong đó hình nhi thượng chỉ khái lược sơ sài về vũ trụ một cách chung chung, thiếu lập luận chặt chẽ. Riêng về hình nhi hạ thì khai thác sâu về chuẩn mực đạo lý của người quân tử, cách đối nhân xử thế - đây là cốt lõi của Nho giáo) thì triết học Phật giáo có phương pháp lý luận mang tính biện chứng mặc dù trong lớp vỏ duy tâm chủ quan. Phật giáo ở Việt Nam trong một chặng đường dài hơn 400 năm đóng vai trò Quốc giáo và đã đào tạo bao lớp nhà sư hiền tài, tham gia trong đời sống chính trị xã hội, giúp dân giúp ước như Sư Pháp Thuận, Sư Vạn Hạnh, Sư Mẫn Giác, Sư Huyền Quang … Khởi nguồn của triết học Phật giáo ra đời trong làn sóng phản đối sự phân biệt đẳng cấp nghiệt ngã của Bà la môn giáo, là tiếng nói tiến bộ đòi bình đẳng và tự do xã hội. Yếu tố tiến bộ của triết học Phật giáo ở chỗ nêu lên được nỗi đau khổ của con người và sự tàn ác dã man của chế độ chiếm hữu nô lệ Ấn Độ, và bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc mang đầy tính nhân đạo “Nước mắt chúng sinh gộp lại nhiều hơn cả đại dương”. Đạo Phật vào Việt Nam không còn giữ nguyên bản sắc của mình mà chuyển hóa cho phù hợp với tín ngưỡng bản địa của xã hội Việt Nam. Những nhà tu hành đời Lý Trần luôn thể hiện sự hoài nghi triết học “Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ - Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh – Nam nhi tự hữu xung thiên chí – Hựu hướng Như Lai hành xứ hành” (Thị tật – Sư Quảng Nghiêm). Đúng là trát tuyệt ! Một nhà sư mà ngôn phong lại rất đời. Có lìa được khỏi cái tịch diệt vào cõi vô sinh thì hãy nói chuyện về cõi vô sinh. Còn sống trong cõi vô thường này mà cứ nói chuyện tịch diệt, vô sinh thì chỉ hoài công vô lý. Vấn đề quan trọng trong cuộc sống này chính ý chí xông lên của con người chứ không phải trở lại lối mòn của Như Lai. Vậy thì đúng là lạc quan yêu đời và hướng đến giá trị cuộc sống bằng sự phấn đấu vươn lên không ngừng của con người đầy năng động. Hình như cái cốt lõi diệt dục trong triết lý Phật giáo để giải thoát chúng sinh không còn ý nghĩa nữa mà lại là ý thức trách nhiệm vào đời thật đẹp, đầy ắp lý tưởng lãng mạn của khát vọng vươn lên. Phật giáo trong thời kỳ thịnh trị đã đi vào đời sống con người không phải là sự ru ngủ con người trong kiếp luân hồi mà là tìm con đường giải thoát ngay trong hiện thực cuộc đời. Ảnh hưởng của Phật giáo vào đời sống xã hội Việt Nam rất sâu đậm, và đặc biệt là trong cộng đồng dân cư, từ đình chùa, miếu đến các nghi thức tôn giáo, nếp sống văn hóa để trở thành hành vi đạo đức. Giao tiếp nhau qua lời chào mô Phật thật hiền từ hay một cái vái khi gặp nhau hoặc chia tay nhau cũng mang đận dâu ấn của nền giáo dục Phật học.… Song Phật giáo cũng không là đạo trị nước nên tính cách giáo dục của Phật giáo chưa hoàn chỉnh như Nho giáo mà chủ yếu xây dựng con người hướng thiện và diệt dục không tạo nên được hệ thống giáo dục với những chuẩn mực của đời sống xã hội.
Nền giáo dục Phật giáo chưa bao giờ trở thành một hệ thống hoàn chỉnh, song dấu ấn để lại trong đời sống xã hội lại rất lớn. Nếu như Nho giáo phù hợp với tầng lớp trí thức, quyền quý của giai tầng thống trị thì giáo dục cùa Phật pháp lại gần gũi với đời sống nhân dân lao động. Những triết lý cao siêu “sắc có tự không, không có tự sắc” trong logic biện chứng của Phật học hình như không đi sâu vào đời sống xã hội vì nó tư duy triết học quá nhiều, đòi hỏi phải có trình độ cao siêu, uyên bác mới tiếp cận được. Nhưng người lao động lại trân trọng và tôn thờ tính từ bi hỉ xả của Phật pháp và đặc biệt là ước vọng về sự công bằng, tinh thần độ lượng lại phù hợp với tâm tư tình cảm người dân nông nghiệp không ưa triết lý chỉ thiên sống về tình cảm. Những lời giáo huấn “ Trước mắt Phật, mọi chúng sinh đều bình đẳng” đã đi vào lòng người một cách tự nhiên đầm ấm.
Phật giáo từ thời nhà Lý không còn là ánh sáng vô biên cứu rỗi con người ra khỏi khổ hải mà là người bạn trên những chặng đường cuộc đời. Nói như Trúc Lâm quốc sư “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện, đó chính là Phật”. Điều đó đã chứng tỏ Phật giáo hết sức gần gũi trong đời sống tâm linh con người.
Suốt một chặng đường dài của lịch sử hơn 400 năm. Phật giáo là quốc giáo cũng đã góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiền hòa, chân chất, độ lượng, quý trọng sự sống, nguồn sống và trở thành tinh thần nhân đạo cao đẹp của người Việt Nam.
3. Giáo dục Lão giáo
Tư tưởng của Lão Tử (cùng thời Khổng Tử ở Trung Quốc) là một nền triết học chưa hoàn chỉnh tuy cũng có yếu tố tích cực về tư duy triết học song về nhân sinh quan lại mang thái độ tiêu cực và duy tâm. Lão giáo thời Lão Tử ra đời trong bối cảnh thời Xuân Thu, những cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến Trung Hoa để tranh giành quyền lực diễn ra triền miên nên đời sống nhân dân cơ cực, lòng người ly tán. Những cảnh vật đổi sao dời đã tác động lớn đến đời sống xã hội. Những giá trị đạo đức từ thuở Nghiêu - Thuấn đến nhà Thương - Chu đã có nhiều thay đổi theo hình thái kinh tế xã hội từ thị tộc đến chiếm hữu nô lệ và dần dà chuyển sang phong kiến. Chính vì thế có một lớp người bất mãn, muốn buông xuôi tất cả, mặc cho con tạo xoay vần và họ tìm đến “thanh tịnh vô vi “ của Lão giáo. Đến cuối thời Chiến quốc, nhà Tần thống nhất đất nước Trung Hoa, xây dựng nền trung ương tập quyền, bài xích Nho giáo, đốt sách vở có liên quan đến Tứ thư, Lục kinh và xây dựng nhà nước pháp quyền. Đây cũng chính là mảnh đất tốt cho những tư tưởng yếm thế, xa lánh cõi đời của Lão giáo. Tuy nhiên do Lão giáo là hệ thống triết học chưa hoàn chỉnh, nên trong quá trình tiệm cận, một số người khai thác yếu tố huyền bí và trở thành Đạo giáo. Thời nhà Hán, Trương Lăng lợi dụng Lão giáo thành Đạo giáo. Mục đích của Trương Lăng là dựa vào niềm tin thần tiên ma quỷ để tập hợp nông dân làm cuộc khởi nghĩa chống phong kiến. Đến thời Tam quốc, Trương Giác, Trương Lỗ dùng đạo này để khởi nghĩa và bị Tào Tháo đàn áp. Cuối cùng Đạo giáo của con cháu Trương Lỗ thành đạo cầu tiên, phù thủy. Lão giáo dần dần trở thành thứ đạo tu tiên, luyện trường sinh bất lão, đồng bóng huyền hoặc, mê tín dị đoan.
Sự ảnh hưởng của Lão giáo vào nền giáo dục Việt Nam tuy không lớn mạnh như Nho giáo hay Phật giáo nhưng cũng tác động đến đời sống xã hội. những sách vở của Lão Tử, Liệt Tử, Trang Tử đi vào tư tưởng giới trí thức tư tưởng tiêu diêu phóng khoáng, chán chường công danh phú quý, cầu sự an nhàn tự do, hòa nhập tâm hồn con người vào thiên nhiên rộng mở “ Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc – Thuyền chở yên hà nặng vạy then” (Nguyễn Trãi), “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ - Người khôn người đến chốn lao xao” (Nguyễn Bỉnh Khiêm), hay như Nguyễn Đình Chiểu với “Kinh luân đã sẵn trong tay – Thung dung dưới thế, vui say trong trời” (Lục Vân Tiên). Đối với nhân dân lao động thì tìm đến Lão giáo qua những chuyện thần tiên, ma quỷ, bói toán huyền hoặc.
Sở dĩ Lão giáo có mảnh đất để dung nạp vì trong thời kỳ Bắc thuộc, một tầng lớp trên chán chường thân phận lệ thuộc, tôi đòi cho người đã tìm cách giải thoát tư tưởng qua việc cầu nhàn, thoát ly cuộc sống cộng đồng trong điều kiện địa lý xã hội lúc bấy giờ còn hoang sơ, đất rộng người thưa, khung cảnh thiên nhiên gần gũi con người hơn. Trước bất công của cuộc sống, những bậc thức giả cảm nhận mình bất lực nên tìm cách an ủi tinh thần, lãng quên cuộc đời trong thanh tịnh vô vi ở chốn rừng sâu hay hang động. Xã hội nông nghiệp Việt Nam thời Bắc thuộc, con người lao động phải đấu tranh với người phương Bắc bóc lột, vừa đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, để tìm chén cơm manh áo. Mặt khác con người chưa thoát khỏi tư duy sùng bái thần linh, chưa tìm được những quy luật tự nhiên thì mọi hiện tượng được gán ghép cho các lực lượng siêu hình là điều tất yếu. Người dân đến với Lão giáo qua biến hình của nó là Đạo giáo, tin vào các câu chuyện thần tiên cũng là một cách giải thoát khỏi cơ cực của hiện thực cuộc sống bằng liệu pháp tinh thần.
Suốt chặng đường dài của lịch sử dân tộc, Lão giáo ở Việt Nam không sôi nổi ồn ào như Nho giáo hay mạnh mẽ như Phật giáo, nhưng Lão giáo vẫn là một thứ tư tưởng mà nhiều người tìm đến nhất là khi những cảnh vua tôi mờ mịt của đạo quân thần (Nho giáo) trong các cuộc tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến hay những khi đức độ từ bi bác ái của Phật không cứu rỗi chúng sinh trong biển lửa chiến tranh phong kiến triền miên, thì những nhân sĩ, trí thức lại tìm đến Lão giáo để giữ vững lòng trong sạch của mình trước bể đời. Mặt khác bản chất con người Việt Nam vốn yêu chuộng sự hiền hòa, không đam mê danh vọng cao xa cũng vô hình trung đã đồng hành cùng Lão giáo trong chặng đường dài của lịch sử để góp phần hình thành trong tâm hồn người Việt một tình yêu thiên nhiên, một tâm hồn trong sạch thanh cao.
Góp phần hình thành bản sắc dân tộc không thể không kể đến tác động của tam giáo đồng nguyên : Nho - Phật - Lão và đặc biệt là những yếu tố tiến bộ của Nho giáo và Phật giáo.
III. BẢN SẮC VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
1. Khái niệm bản sắc dân tộc
Bản sắc dân tộc là đặc trưng không thể nhầm lẫn giữa dân tộc này với dân tộc khác. Nó là chân tướng, là căn nguyên được hình được hình thành trong suốt quá trình biến thiên của lịch sử dân tộc và thấm nhuần vào tim óc của mỗi người được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ đời này sang đời khác để trở thành niềm tự hào, thành nét đẹp văn hóa trong đời sống tâm linh.
2. Con người Việt Nam truyền thống
Đất nước Việt Nam là vùng đất bồi trên các tầng lớp phù sa cổ và tích tụ về phương Nam. Mỗi năm ở mũi Cà Mau luôn có xu hướng đất lấn ra biển để tạo nên những dôi đất mới. Với hệ thống sông ngòi chằng chịt chảy ra biển thích hợp với nền văn minh tiểu nông lúa nước và đặc biệt là vị trí địa lý Việt Nam là nơi giao thoa của nền văn minh Ấn Độ và Trung Quốc đồng thời cũng là cửa ngỏ để tiếp nhận, giao dịch hàng hóa giữa các nước Đông Á và Nam Á trên một hành lang biển rộng lớn, đặc biệt hơn nữa là lịch sử tồn tại và phát triển dân tộc luôn đi liền với nhu cầu đấu tranh chống ngoại xâm đã góp phần hình thành suy nghĩ, tình cảm và tính cách của người Việt Nam.
2.1 Tinh thần yêu nước, thương dân
Suốt bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, gia tài cha ông ta để lại cho hậu thế không đồ sộ lắm. Cũng có thể do lịch sử dân tộc ta với những năm tháng chiến tranh triền miên tàn phá mà còn phải kể thêm cả chúng ta, những người ngày nay đôi khi vô tình với những di sản vô giá ấy. Song một điều mà không ai có thể phủ nhận được chính là lòng yêu nước nồng nàn luôn cuộn chảy trong tâm hồn mọi con người Việt Nam, đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là huyết mạch là hơi thở, là sự sống của dân tộc. Nhìn lại suốt hơn 1.000 năm nội thuộc Phương Bắc, mặc cho chính sách đồng hóa của Trung Quốc, người Việt Nam vẫn giữ được phong tục tập quán, tiếng nói cha ông. Một điều rất đặc biệt trong suốt tiến trình lịch sử, qua biết bao triều đại thăng trầm nhưng tên nước vẫn luôn mang đầy tính tự hào, kiêu hãnh từ nước Vạn Xuân (Lý Nam Đế) đến Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu, Đại Nam và Việt Nam như ngày nay. Từ Nam quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt) đến Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi)… những áng thiên cổ hùng văn muôn đời bất hủ của dân tộc luôn thể hiện cái tôi trữ tình yêu nước vĩ đại. Một Đặng Dung mài kiếm dưới trăng nuôi chí lớn: "Quốc thù vị phục đầu tiên bạch - Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma”, hay một Nguyễn Huệ khẳng khái: “Đánh cho chích luân bất phản, đánh cho phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri Nam quốc sơn hà chi hữu chủ”. Chính tinh thần yêu nước đó đã giúp dân tộc vượt qua bao thử thách gian khổ để giữ vững mảnh đất thân thương này. Thấm sâu trong từng tấc đất là biết bao máu xương của tiền nhân đã đổ xuống vì hai chữ Việt Nam.
Trong suốt chặng đường biến thiên lịch sử của dân tộc, từ thuở Vua Hùng Vương dựng nước đến thời đại Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã trải qua biết bao thăng trầm. Hơn một ngàn năm nội thuộc phương Bắc với chính sách đồng hóa, nhằm biến nước Nam ta thành một quận huyện của Trung Quốc. Thế nhưng "nước đi ra biển, mưa lại về nguồn". Một ngàn năm ta vẫn là ta. Trong đêm trường tăm tối ấy, lần lượt những cuộc khởi nghĩa đã diễn ra "quyết cưỡi cơn sóng dữ, đạp cơn gió mạnh, chém cá kình ở biển Đông, chứ quyết không đem thân làm nô lệ cho người”. Trong những câu chuyện xưa còn truyền tụng lại khi Mã Viện sang xâm lược nước ta (43 SCN), Hai Bà Trưng thất thủ nhảy xuống dòng sông Hát Giang tự tử. Mã Viện đã cho người dựng trụ đồng và khắc ghi "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt", Người Việt ta đã căm tức bằng cách mỗi người đi ngang ném vào đấy một viên đá và dần dần nơi ấy thành núi đá lấp luôn trụ đồng. Qua biết bao thăm trầm nước Việt ta luôn đứng trước nguy cơ bị xâm lược. Từ khi Ngô Quyền đạp sóng Bạch Đằng mở ra kỷ nguyên mới lần lượt đánh tan các thế lực hùng mạnh của Tống, Nguyên, Minh, Thanh đến thời kỳ Pháp thuộc với nền văn minh Âu Tây, song tâm hồn người Việt vẫn bám chắc lấy cội nguồn, bám chắc vào mảnh hồn làng, vào tinh túy của dân tộc. Đó là bản sắc, là đặc trưng của nền văn hóa in dấu ấn sâu đậm trong lòng người Việt Nam.
Khái niệm yêu nước gắn liền với thương dân là đạo lý sáng ngời của dân tộc. Các vị vua sáng tôi hiền luôn ưu tư đến cuộc sống nhân dân. Nguyễn Trãi đã giương cao ngọn cờ "nhân nghĩa" làm sức mạnh cho cuộc kháng chiến, lấy nhân dân làm đối tượng phục vụ.
"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"
Vì thương dân mà trừng trị kẻ có tội để mang lại cuộc sống thanh bình cho nhân dân, đó là chính nghĩa. Với tiêu chỉ đó, cuộc khởi nghĩa đã tập hợp được sức mạnh của "tứ phương manh lệ": "Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới" để làm nên sự nghiệp Bình Ngô phục quốc vĩ đại.
Phạm trù "yêu nước" gắn liền với "thương dân" là nét đặc trưng lớn nhất của dân tộc, là nét đẹp văn hóa truyền thống, là cội nguồn, căn nguyên, là thước đo phẩm chất đạo đức con người Việt Nam.
2.2 Tinh thần nhân đạo cao đẹp yêu chuộng hoà bình của dân tộc
Xã hội Việt Nam vốn là xã hội nông nghiệp, con người Việt Nam có thói quen định canh, định cư, tâm hồn con người gắn bó với mảnh đất nơi mình sinh sống, với lũy tre đầu làng, với giếng nước gốc đa. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã viết:
"Đất nghèo nuôi những anh hùng
Chìm trong máu chảy lại vùng đứng lên.
Đạp quân thù xuống đất đen
Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa."
Yêu nước và nhân đạo là tư tưởng và tình cảm của người Việt Nam. Khi đất nước có giặc, họ lên đường đi theo tiếng gọi thiêng liêng như Nguyễn Đình Chiểu đã viết "chẳng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ". Rồi khi hết giặc họ trở về đời sống dân dã. Tinh thần nhân đạo của dân tộc ta rộng mở bao dung, không chỉ yêu thương con người mà còn là thái độ khoan dung độ lượng với cả kẻ thù. Tình cảm đó rất Việt Nam. Nhìn lại trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, tòa án Rumember đã xử treo cổ những tội phạm chiến tranh hay trong thời trung cổ, các hàng tướng, tù binh có thể bị giết chết hoặc đi đày thì trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hay chiến công lẫy lừng của Nguyễn Huệ Quang Trung tinh thần nhân đạo của dân tộc không chỉ thể hiện với người thân mà còn cả với kẻ thù khi đã trở thành bại tướng. Đó là nét đẹp văn hóa, là truyền thống dân tộc. Trong tâm linh người Việt thì quan nịêm “Đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người quay lại” thành phương châm sống rộng mở bao dung của người Việt Nam.
Tinh thần nhân đạo, bản chất yêu chuộng hoà bình căm ghét chiến tranh là bản sắc dân tộc Việt Nam. Điều đó đã được khẳng định qua bốn ngàn năm lịch sử, từ thưở vua Hùng mở cõi đến thời đaị Hồ Chí Minh ngày nay.
2.3 Cuộc sống dung dị chất phác, yêu thiên nhiên, không màng danh lợi, yêu ghét phân minh cuả người Việt Nam
Dân tộc Việt Nam vốn sống thiên về tình cảm, không ưa triết lý dông dài, thương nói thương, ghét nói ghét, đó là chất bộc trực, thương ghét rạch ròi, đen trắng phân minh. Những tính cách đó dễ dàng nhận thấy trong tính cách anh hùng hào hiệp: "Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha" (Nguyễn Du). Tâm hồn dung dị hiền hòa thực hiện ở tình yêu thiên nhiên cây cỏ, yêu cuộc sống. Không phô diễn, đó là đặc trưng cuả dân tộc, đó là tâm hồn dung dị của người Việt Nam.
Tình yêu thiên nhiên ấy thể hiện bản chất hiền hòa, nhân hậu của người Việt Nam. Trong vô bờ của nhịp điệu cuộc sống hiện nay, tốc độ đô thị hóa theo vũ điệu quay cuồng thì ngay trong lòng thành phố đô thị chúng ta những hòn non bộ được ẩn dấu trong góc phòng, trong góc sân vườn, một thế giới thiên nhiên thu nhỏ trong tâm linh con người Việt Nam, một nét đẹp hiền hòa dung dị.
Tâm hồn nhân hậu hiền hòa ấy lại là một trái tim son sắt thủy chung. Tâm hồn dung dị của một xã hội nông nghiệp với nền văn minh lúa nước đã tạo cho người Việt Nam không ưa đề cao cái "tôi" cá nhân. Từ truyền thuyết về Thánh Gióng đã phản ánh chất mộc mạc, dung dị không màng danh lợi của người Việt cổ. Khi có giặc đến xâm lược, họ đứng lên đánh giặc. Hết giặc lui về sống cuộc sống thanh bần chốn quê nhà. Công hầu khanh tướng chỉ làm vướng bận mà thôi. Gạt bỏ đi lớp vỏ yếm thế "thanh tịnh vô vi" của Lão giáo thì bản chất không ưa manh động không màng danh lợi đã in dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn. Thế nhưng bản chất hiền hòa đó không phải là nhu nhược. Khi cần thiết, vì quyền lợi của Tổ quốc họ sẵn sàng "rũ bùn lên đứng dậy sáng lòa". Bản chất hiền hòa đó lại đầy nghĩa khí, căm ghét bất công, yêu chuộng hòa bình sẵn sàng hy sinh nhân mình vì nghĩa lớn.
Trong ý nghĩa nào đó, cuộc sống giản dị chất phát, ghét cầu kỳ, không màng danh lợi dẫu có những cái hay, cái đẹp, song trong tính cách hai mặt của vấn đề đã đánh mất động lực, hạn chế nhu cầu của sự phát triển của bản thân cũng như xã hội. Suốt chặng đường dài gần 1.000 năm thời tự chủ cho đến khi người Pháp xâm lược Việt Nam, nhu cầu con người cũng chẳng thay đổi là bao, quanh năm áo vải chân không, ngay cả những sắc màu trong cuộc sống, trong y phục, trang trí… cũng không thay đổi. Con người không thoát khỏi suy nghĩ cầu mong mưa thuận gió hòa để ăn no mặc ấm là hạnh phúc rồi. Cả đời sống vật chất lẫn tinh thần chỉ quanh quẩn có thế mà thôi. Điều đó đã kìm hãm sự phát triển xã hội. Khi người Pháp xâm lược, làn sóng văn hóa phương Tây tràn vào Việt Nam đã là một cuộc biến thiên lớn về tư tưởng, suy nghĩ, nhân sinh. Tính cách người Việt ít nhiều đã thay đổi để hình thành con người Việt Nam thời đại mới.
2.4 Con người cần cù, chịu thương chịu khó, đề cao kinh nghiệm, xem trọng truyền thống gia đình cộng đồng làng xã
Cần cù chịu thương chịu khó vốn là bản tính của con người nông nghiệp. Những câu ca dao “Cày đồng đang buổi ban trưa – Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” hoặc “Cầu cho chân cứng đá mềm – Trời trong biển lặng mới yên tấm lòng”… Đức tính cần cù ấy phù hợp với nền văn minh nông nghiệp, phụ thuộc vào thiên nhiên hoặc các ngành nghề sản xuất giản đơn, thủ công, tính cách yêu lao động, sống có thỉ có chung, yêu chuộng truyền thống gia đình, theo nghiệp cha truyền con nối, đời sống quanh quẩn trong lũy tre làng, trong tình làng nghĩa xóm đã gắn với dân tộc suốt mấy ngàn năm.
Đời sống cộng đồng làng xã tạo nên sự gắn bó khắng khít các thành viên, đoàn kết, đùm bọc, tối lửa tắt đèn có nhau. Cuộc sống làng xã mang đậm tính dân chủ thông qua các lệ làng, hương ước tạo sự gắn bó mật thiết con người với nơi chôn nhau cắt rốn, đó là điều kiện để hình thành tình yêu quê hương thiết tha.
Có thể do phương tiện giao thông, thông tin thời xưa còn hạn chế, sự giao lưu với các địa phương chưa được mở rộng nên hình thành trong suy nghĩ con người tri thức kinh nghiệm. Trong gia đình thì đèn nhà ai nấy rạng, làng xã thì phép vua thua lệ làng, từ đó tạo cho con người tầm nhìn hạn hẹp, chỉ chăm bẵm cho gia đình, làng xã mình dần dần tạo nên tính bảo thủ, cục bộ địa phương, ngán ngại những đổi thay, chừng như các nếp sinh hoạt được thực hiện theo quán tính, dần dần tạo ra sức ì, dẫn đến thiếu sáng tạo, mà chỉ đề cao kinh nghiệm sẵn có của cha ông. Tri thức kinh nghiệm là cấp độ thấp của tư duy. Chính tư duy lý luận mới là động lực của sự phát triển. Kinh nghiệm là sự lặp đi lặp lại những sự việc trong điều kiện không thay đổi sẽ thu được hiệu quả. Nhưng khi điều kiện xã hội thay đổi thì tri thức kinh nghiệm sẽ không đáp ứng được nên hệ quả tất yếu là trì trệ, lạc hậu. Tri thức kinh nghiệm thường nông cạn, không đi sâu vào bản chất nội dung của vấn đề mà chỉ là việc lặp lại các hành động thành thói quen. Việc tuyệt đối hóa vai trò của kinh nghiệm dẫn đến tuyệt đối hóa vai trò của người nhiều tuổi “Sống lâu lên lão làng” đã vô hình trung triệt tiêu sức sáng tạo của tuổi trẻ. Đây là một sai lầm của giáo dục truyền thống.
Tập quán sản xuất tiểu nông lúa nước tạo cho con người Việt Nam hạch toán kém, thiếu tư duy kinh tế, tác phong tùy tiện, không tôn trọng ý thức kỷ luật, ý thức lao động kiểu “khỏe quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm”. Ý thức cộng đồng trong sản xuất kém nên năng suất lao động không cao, tâm lý thích bình quân, cào bằng, không chấp nhận sự phân hóa nên chưa kích thích được nhu cầu phát triển xã hội. Chính tư duy kiểu cha truyền con nối đã tạo sự mai một một số ngành nghề gia truyền, làm thui chột ước mơ sáng tạo của tuổi trẻ.
2.5 Lòng hoài niệm hay thái độ trân trọng quá khứ
"Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long"
Tấm chân tình ấy đi theo tướng Huỳnh Văn Nghệ qua hai cuộc trường chinh chống Pháp, Mỹ. Hoài niệm là đặc trưng của dân tộc Việt Nam thể hiện một ý thức trân trọng quá khứ. Ông cha ta đã từng dạy "ôn cố tri tân". Gammatốp đã nói: "Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác". Bằng bản chất hiền hòa, dân tộc ta rất trân trọng quá khứ nhất là quá khứ hào hùng của dân tộc. Ngày hôm nay bắt đầu từ hôm qua, ngày mai bắt đầu từ hôm nay. Đó là thái độ trân trọng quá khứ.
Chính xã hội nông nghiệp với nền văn minh lúa nước, từ xưa mỗi năm làm một vụ lúa mùa cứ thế xoay vòng, ngày qua ngày, tháng tiếp tháng, năm lại năm chừng như suốt đời không thay đổi: “Tháng giêng là tháng ăn chơi – tháng hai trồng đậu, tháng ba trồng cà”... cũng đã tạo ra tính cách người Việt chậm rãi, trong từng bước đi, trong suy nghĩ, đề cao kinh nghiệm, trân trọng quá khứ. Bản thân niềm hoài cổ cũng là tấm chân tình đối với cuộc sống. Song phải biết hoài niệm về quá khứ để hướng tới tương lai là điều cần thiết, là tính nhân văn cao đẹp. Một điều mà ai cũng dễ nhận thấy và cũng đã nghe nhiều lần câu nói quen thuộc sau mỗi mùa Tết “Tết năm nay không vui bằng Tết năm ngoái”. Trong thực tế cuộc sống nét đẹp văn hóa trong tâm hồn con người Việt Nam thể hiện ở thái độ "kính lão đắc thọ" trân trọng ý kiến của các bậc cao niên, tôn kính ông bà tổ tiên, trân trọng thời thơ ấu của chính mình. Đó phải chăng là dấu ấn của quan niệm hoài cổ. Ý thức hoài cổ cũng chính là biết nhìn lại chính mình để điều chỉnh những hành vi đạo đức.
Ý thức hoài cổ cũng là nét văn hóa đặc trưng của người Việt. Tuy nhiên nếu cứ khư khư giữ lấy cái cũ mà quên rằng nhịp điệu cuộc sống luôn thay đổi không ngừng thì tư tưởng hoài cổ trở thành thảm họa. Nhìn về quá khứ để hướng tới tương lai là điều mà mọi người cần lưu ý.
3. Con người Việt Nam thời đại mới
Tính từ thời điểm đất nước đổi mới hiện nay (1986), đời sống xã hội có nhiều thay đổi thì tính cách con người cũng phải thay đổi. Hiện thực xã hội hình thành ý thức xã hội đó quy luật biện chứng. Trong xu thế hội nhập mang tính toàn cầu, việc mở rộng các mối quan hệ quốc tế dẫn đến con người Việt hiện đại những nét đặc trưng sau:
3.1 Tích cực
- Trân trọng và biết gìn giữ những giá trị truyền thống nhưng không câu nệ, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa nhân loại, tinh hoa cuả bản sắc dân tộc.
- Con người Việt Nam phản ứng nhanh và tích cực với đổi mới. Đặc biệt là một lớp trẻ năng động, sáng tạo. Nhaỵ bén nhận thức được những mặt tích cực và hạn chế cuả nền kinh tế thị trường, đồng thời có ý chí để vượt qua những xáo động về tâm lý và thích nghi, bắt nhịp với cuộc sống mới.
- Hiếu học, thông minh, thích nghiên cứu khoa học, mở rộng tầm quan hệ quốc tế, bước đầu đã có nhiều chuyển biến trong tư duy kinh tế, chịu khó học hỏi kinh nghiệm các quốc gia trong khu vực và thế giói.
- Khát vọng làm giàu, nhu cầu ăn ngon mặc đẹp thành tiêu chuẩn cuộc sống, có ý chí vươn tới tương lai.
Như vậy, cách nghĩ, cách nhìn cuả người Việt đã có nhiều thay đổi so với bản sắc truyền thồng. Tầm nhìn con người không bị giới hạn bởi lũy tre làng mà không gian đã rộng mở hơn. Tuy nhiên do chưa chuẩn bị kỹ tư thế hội nhập nên người Việt đã sớm bộc lộ nhiều hạn chế cần điều chỉnh.
3.2 Hạn chế
- Người Việt thích nghi với điều kiện mới nhanh nhưng trình độ còn thấp chưa đáp ứng đòi hỏi mới.
- Làm kinh tế chưa biết trọng chữ tín, chưa xây dựng được thương hiệu vững chắc, thiếu tính lâu bền và ý nguyện làm ăn lớn. Vẫn còn quen lối sống ăn xổi ở thì, thấy lợi nhỏ vội làm mà chưa nghĩ đến lợi ích lâu dài. Những trường hợp điển hình trong xây dựng hay trong xuất khẩu lương thực, thực phẩm và hàng may mặc… kém chất lượng bị mất thị trường…
- Thiếu ý thức và thói quen chấp hành nội quy, kỷ luật, ý thức gìn giữ môi trường còn kém, chưa có tinh thần thượng tôn pháp luật. Ví dụ chấp hành luật giao thông, xả rác bừa bãi, hút thuốc nơi công cộng… Chính sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm nên tác phong công nghiệp chưa cao.
- Còn mang tư tưởng sùng ngoại, chừng như cái gì của người điều tốt, nhất là trên lĩnh vực hàng hóa, ưa bắt chước nhưng trình độ thấp nên tạo ra trạng thái lai tạp. Một số người có xu hướng coi thường những giá trị dân tộc, và mang tư tưởng vọng ngoại.
- Bản lĩnh cá nhân còn yếu nên dễ mắc vào các tệ nạn xã hội, dễ sa ngã trong cám dỗ vật chất cuả nền kinh tế thị trường.
Đó là những nét cơ bản trong chân dung con người thời đaị mới.
4. Những hệ thống giá trị con người cuả UNESCO
Theo UNESCO, hệ thống giá trị con người gồm 4 nhóm:
- Nhóm giá trị cốt lõi: hòa bình, tự do, việc làm, gia đình, sức khỏe, an ninh, tự trọng, công lý, tình nghĩa, sống có mục đích, niềm tin, tự lập, nghề nghiệp, học vấn.
- Nhóm giá trị cơ bản: sáng taọ, tình yêu, chân lý.
- Nhóm giá trị ý nghiã: cuộc sống giàu sang, cái đẹp.
- Nhóm giá trị không đặc trưng: địa vị xã hội.
4.1 Về giá trị con người: Theo một số thăm dò xã hội học thì người Việt Nam lưạ chọn nhiều nhất 10 giá trị sau đây: Hòa bình, tự do, sức khỏe, việc làm, công lý, học vấn, gia đình, an ninh, niềm tin, nghề nghiệp. Theo kết quả trên ta nhận thấy người Việt hiện đại chỉ chú trọng những giá trị cốt lõi, điều đó cho thấy ý thức cuộc sống về xã hội chưa cao, dấu ấn của nền kinh tế nông nghiệp còn in đậm trong tư duy ăn chắc mặc bền của con người, nên đã hạn chế sức sáng tạo, khát vọng làm giàu, nhu cầu về cái đẹp, về chân lý, tình yêu và sự tự khẳng định mình.
4.2 Về giá trị nhân cách: người Việt chọn 6 giá trị nhân cách sau: trình độ cao – học vấn rộng, sống có tình có nghĩa, có khả năng tổ chức và quản lý công việc, làm việc tận tâm có trách nhiệm, sáng tạo trong học tập, lao động và công tác, biết nhiều nghề, thaọ nhiều nghề. Thực chất người Việt vốn hiếu học, nhưng cáí học chưa thiết thực về ngành nghề và chưa mang tính tự thân học tập. Nhìn lại tâm lý học sinh ta dễ nhận ra đứa trẻ đi học vì gia đình, lớn lên học theo yêu cầu xã hội, học vì danh vọng hơn là học những gì mình thích, học những gì phù hợp với năng lực và khả năng cuả bản thân mình. Chờng như khái niệm học để sống, để biết, để làm việc chưa được quan tâm đúng mức.
4.3 Về giá trị nghề nghiệp: người Việt hiện đaị có xu hướng chọn nghề có thu nhập cao, nghề phù hợp với điều kiện chăm lo gia đình, hơn là nghề phù hợp với sức khỏe và trình độ cá nhân, hoặc nghề có điều kiện phát huy năng lực, nghề có điều kiện để tiếp tục học lên cao. Đối với những ngành nghề được xã hội coi trọng, nghề có thể giúp ích mọi người chưa phải là sự chọn lưạ của nhiều người. Bên cạnh đó cũng có một bộ phận chọn nghề được đảm bảo yên tâm suốt đời.
4.4 Về tự đánh giá bản thân: Người Việt Nam tự đánh giá bản thân phải đào tạo lại (tái đào tạo) để phù hợp với yêu cầu xã hội, phải thay đổi cách nghĩ, nếp sống, thấy được những khó khăn hạn chế do thiếu ngoại ngữ, lo lắng cho tinh hoa truyền thống bị mai một, ưu tư về sự phát triển của đất nước chưa bắt kịp khu vực và thế giới. Đó cũng là cái nhìn đầy tiến bộ, hướng tới tương lai.
Trong chừng mực nào đó, tư tưởng thực dụng đã hình thành trong một số con người Việt Nam, nhất là giới trẻ hiện nay, điều này sẽ là một mối quan ngại cho những ai ưu tư đến vấn đề giáo dục. Để giữ vững những giá trị truyền thống, đồng thời xây dựng hình ảnh con người năng động, sáng tạo đưa đất nước phát triển , đang cần và rất cần những thầy cô giáo với tinh thần trách nhiệm.
Trên đây là những suy nghĩ tản mạn về con người và giáo dục. Rất chân thành tri ân thầy Vũ Tình, PGS TS, Phó Hiệu trưởng trường Đaị học Khoa học xã hội và nhân văn TPHCM đã cung cấp cho tôi những tri thức quý báu. Bể học là vô tận, kiến thức cá nhân chỉ là hữu hạn, nên sẽ còn nhiều khiếm khuyết trong bài viết này. Rất mong nhận được sự đóng góp cuả quý thầy cô.
Xin chân thành cám ơn.
Ngày cuối tháng 12 năm 2007
NGUYỄN VĂN THÀNH