Như những vì sao lấp lánh
Nguyễn Thị Yến Thu
Tôi sinh trưởng tại Cù Lao phố, cách thành phố Biên Hòa vài km – tỉnh Đồng Nai (tỉnh Biên Hòa). Quê tôi cũng có trường tiểu học năm 1950 tuy đã 10 tuổi nhưng chỉ học lớp tư (lớp 2 ngày nay), vì má hay đưa chúng tôi vào Tháp Mười thăm ba đang kháng chiến chống Pháp. Một năm vài ba tháng. Do đó cũng không học tại trường làng được bao nhiêu. 1950 các cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp đều dời xuống miền Tây – Cà Mau – Bạc Liêu - khu 9. Nơi đây dân cư đa số giác ngộ cách mạng, đồng ruộng phì nhiêu, cá tôm đầy sông. Nhiều thuận lợi cho công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Lúc này ba tôi làm Giám đốc Sở giao thông liên lạc Nam bộ (tiền thân của ngành bưu điện) cơ quan này đang đóng tại Phong Lưu. Công tác ổn định. Ba tôi cho người về đón tất cả gia đình chúng tôi vào khu 9. Một thời gian ngắn ba tôi cho các con đến các trường tiểu học kháng chiến Nam bộ tiếp tục học tập. Anh Hòa, anh Thuận vào tiểu học Phan Ngọc Hiển ở Cái Ngay, chị Phương vào Tiểu học Hồ Văn Long ở Cái Nước. Tôi vào trại thiếu nhi Huỳnh Phan Hô tại Điền quốc gia. Nơi đây trước kháng chiến là một cơ sở của một chủ đồn điền người Pháp. Khu vực trường rất rộng. Sân trường được lát gạch tàu đỏ au. Bến sông được xây bê tông nhiều bậc để ngăn mặn xâm nhập mùa nắng. Đập được xây kiên cố. Quanh trường có nhiều dừa, cây mấm, cây đước, cây bần. Bên kia đập là bếp nhà ăn.
Học sinh trong trường lớn là các anh chị học từ những năm bốn tám, bốn chín mười 16 – 17 tuổi thì đã ra công tác, đi bộ đội. Còn lại một số thì phụ giúp nhà trường quản lý số học sinh nhỏ. Tôi mười tuổi nên được xếp vào tiểu đội Sói con. Tại tiểu đội này còn nhiều em nhỏ hơn chúng tôi ba bốn tuổi. Như Hồng Kỳ em Hồng Trương, Ca Lê Phước em bà con của chị Ca Lê Hồng, Ca Lê Hiến. Nhà trường bắt tất cả chúng tôi cắt tóc con trai, cha mẹ ơi vừa xuống tóc rất buồn và mắc cỡ quá. Nhưng tất cả điều như vậy nên cũng được an ủi. Lâu ngày quen dần, lấm lúc bị gọi bằng thằng mới thấy quê quê.
Tại nhóm nhỏ này tôi kết thân với các bạn Nguyễn Thị Thanh Hà – con bác Thanh Sơn, Nguyễn Thị Tám – con dì ba Di, Lâm Thị Tưởng – con liệt sĩ ở Nhà Phấn.
Nhà trường rèn luyện chúng tôi theo chế độ trường thiếu sinh quân. Lớn nhỏ gì cũng phải tham gia sinh hoạt chung. Từ học hành ăn ngủ. Tập quân sự, báo động, hành quân, đánh trận giả, văn nghệ, kiểm điểm phê bình hàng tuần.
Trong năm 1950 trường sinh hoạt trong yên bình, có chạy máy bay. Nhưng máy bay bắn phá xa xa. Nhà trường vẫn cảnh giác, luôn cho người gác máy bay. Khi có máy bay xuất hiện là có kẻng báo động. Dù lúc ấy đang làm gì, ở đâu đều phải chạy ra hầm trú ẩn. Tôi nhớ có lần báo động chạy ra hầm rồi, nhưng hầm nước lẹp xẹp, có nhiều bùn chúng tôi gớm, máy bay tới chúng tôi không nhảy xuống hầm. Anh Vàng lúc đó chạy tới ném chúng tôi xuống hầm tránh máy bay. Có bạn mếu máo anh cốc đầu nên sợ.
Nỗi sợ lớn nhất của chúng tôi lúc đó là báo động, là tập hợp hành quân, đánh trận giả. Nhà trường chia chúng tôi ra làm hai phe, chúng tôi chỉ biết chạy theo các anh chị lớn. Còn các anh chị lớn thì bắt móoc, tìm dấu đi đường đưa đơn vị hành quân. Hành quân trong im lặng không nói, không ho, chúng tôi sợ tối, sợ gián điệp trơn trợt, quanh co, lắm khi sương mù dày đặc không thấy nhau, lạc đường không dám kêu, chỉ khóc thúc thít. Các anh chị có nhiệm vụ đi thu gôm lũ sói con, gặp được các anh chị lớn mừng hơn thấy mẹ đi chợ về, không dám khóc nữa chỉ ậm ực khe khẽ te te chạy theo, không thì lại lạc nữa – sợ ma thấy mồ.
Có một lần tham gia trận giả, chúng tôi phải qua sông Bảy Háp. Lúc này nước ròng sông cạn, bùn lầy ngập ngụa, tôi cắn răng lội theo các anh chị. Phần không biết lội, phần mới mười tuổi, nhỏ con, có chút téo, sợ rớt lại ghê quá, tôi cố bươn theo được một quãng, nơi này bắt đầu có nước, cứ lội đại. Bất thần có vật gì đâm xuyên qua lòng bàn chân bé bỏng. Tôi kêu lên khe khẽ. Anh Vàng ơi! Cái gì đâm vào chân em, đau lắm, em không đi được nữa!. Tôi bật khóc hu hu. Anh Vàng lại ẩm tôi lên, giở cái chân tôi khỏi mặt nước , thấy một con cá chốt chừng bằng cổ tay tôi, đâm xuyên lòng bàn chân. Lúc này các bạn vây quanh, có nam, có nữ nên tôi cố gắng chịu đau. Anh Vàng nắm con cá chốt giật mạnh ra. Tôi điên người, đau tê tái, mặt xanh lét. Bây giờ cảm giác đau còn ít thì lại có cảm giác nhức nhối vô cùng. Anh Vàng bỏ tôi lên chiếc xuồng đưa tôi về chỗ nhà của tiểu đội Sói con. Bây giờ tôi không còn nhớ ai tắm rữa tay chân thay quần áo cho tôi. Tôi chỉ nhớ là chú Long đi mượn trong dân được một cục thuốc trị rắn cắn, nghe nói là sừng tê giác, lúc đó quá nhỏ nên tôi cũng không biết thực hư thế nào, chỉ thấy cục thuốc rắn chừng bằng ngón tay út, đen đen. Vết thương tôi được cô sáu Ú rửa sạch sẽ đặt cục thuốc rắn vào, nọc cá chốt hút chặt cục thuốc rắn, không rớt ra. Vết thương tôi được băng lại cẩn thận, mấy ngày đầu các bạn đem cơm về cho ăn, sau cà nhắc được thì qua bếp ăn, các bạn kêu tôi là em thương binh về trường. Đó là một kỷ niệm rất sâu sắc trong đời học sinh kháng chiến của tôi. Cái thẹo cá đâm vài chục năm sau mới mất hẳn.
Chúng tôi học hành một tuần sáu ngày, ngày chủ nhật được nghỉ ngơi, có khi nhà trường cho chúng tôi đi ra đồng nhặt trứng chim. Chả là trường chúng tôi gần một sân chim lớn trên sông Bảy Háp. Chiều chiều từng đàn cò, diệc, còong cọc, le le bay đặt một khúc sông, tiếng kêu của chúng vang rất xa. Rác chúng tha về làm tổ rơi đặc một khúc sông. Có một số chim không về làm tổ tại sân chim mà nó ra đồng làm tổ tự do, và chúng tôi được cho phép đi nhặt số trứng chim đó. Hôm đi lượm trứng chim lần đó tôi đi cùng anh Bảy, anh chị Tám, anh Quốc. Còn ai nữa không thì bây giờ quên rồi. Đối với đứa trẻ mười tuổi sao cánh đồng ruộng mênh mong. Trên đồng có đủ loại cỏ cây bồn bồn, rau dừa, rau muống, năng, bông súng. Lúc này đang là mùa mưa, nước có nơi lấp xấp, có nơi tới gối và sâu hơn nữa. Tôi đi theo các anh, chúng tôi thấy một con học trò bay lên, các anh nói với nhau thế nào cũng có một ổ học trò ở đây. Chúng tôi đi vòng vòng như vận cù một lúc thì thấy ngay ổ của con học trò. Trong ổ có chừng sáu cái trứng nho nhỏ, rằn ri quá dễ thương, mấy anh nhặt lên bọc vào áo chúng tôi đi một lúc nữa thì nhặt thêm được hai ổ cò trắng tươi, như hột gà tre. Nãy giờ ham quá không để ý, bây giờ sao cảm giác ngón chân cái bên trái nằn nặng, giở chân lên thì thấy một con đĩa vừa phải thôi bám vào chân tôi. Quýnh quá, vừa chạy vừa nhảy lung tung, miệng thì la to. Anh Bảy ơi! Cứu em với! Anh Bảy chạy tới hỏi cái gì vậy? Đĩa đeo em rồi mau bắt dùm em, vừa giơ chân lên vừa nhảy cà tửng, chân đá lung tung. Lần đầu tiên bị đĩa đeo, sợ quá chừng. Anh Bảy cuối xuống định bắt con đĩa ra nhưng tôi cứ nhảy, cà nhảy, anh không bắt được anh la lớn. Con quỹ này, có đứng yên cho tao bắt con đĩa không? Tao không bắt nữa, cho đĩa cắn mày chết đi. Nghe anh dọa sợ quá, cố gắng đứng yên. Anh vừa bắt xong con đĩa là tôi chạy thục mạng, chẳng còn biết các anh có còn đi kiếm trứng nữa không? Chạy bán sống bán chết, không dám nghỉ, sợ đĩa lại đeo nữa. Nhìn thấy rặng dừa nơi nhà tiểu đội Sói con ở mừng quá, về thay đồ xong. Hú vía.
Cứ chiều chiều nước lớn là cả trường được xuống bến sông, xây nhiều bậc cùng tắm rửa, giặt quần áo. Chúng tôi có nhiều bạn chưa biết lội thì tập lội. Từ trong bờ chúng tôi bơi chó ra hàng cọc giữa sông. Đến ôm một cái cọc nghỉ mệt rồi bơi vào bờ. Hôm đó tôi và bạn Tám cùng nhau tập lội, chúng tôi cùng bập bủm, loi ngoi ra giữa sông, mỗi đứa bám vào một cái cọc nghỉ một lúc. Tôi nhìn tay Tám có vật gì đen đen. Nhìn kỹ, cha mẹ ơi một con đĩa to, đeo dưới cánh tay của Tám, tôi sợ quá không dám nói cho Tám biết, sợ Tám mất bình tĩnh không bơi về được, chết hụt thì nguy hiểm. Tôi liền quầy quả bơi vào bờ, tôi leo lên bậc thềm rồi ngoắc Tám vô. Tám vào bờ Thu chỉ cái này cho Tám coi, hay lắm, mau lên!. Nghe vậy Tám bập bũm bơi vào. Tám leo lên bậc thềm xong tôi mới chỉ cho Tám thấy, Tám bị con đĩa đeo. Tới phiên Tám nhảy cà tưng, cà dựng. Sau cùng rồi cũng bắt được con đĩa.
Tôi và Tám còn một kỷ niệm nữa mà suốt đời hai đứa không bao giờ quên. Ngày hôm đó cả tiểu đội Sói con đang ngủ trưa. Tôi đã vào ngủ được một lúc, mắc tiểu tôi xin phép ra ngoài, vừa đi vừa nhìn ra sông, lúc này nước bắt đầu lớn, nước bên ngoài chảy mạnh vào trong. Tôi nhìn thấy một người đang chới với giữa dòng, trồi lên hụp xuống, nhìn kỷ thì ra là Tám. Mọi người ngủ Tám lén ra thả cống, biết bơi ít nên bị nước tống ra xa không vào được. Sợ quá! Sợ bạn chết chìm, không suy nghĩ gì thêm, tôi nhảy ùm xuống sông, lòi chòi ra chỗ Tám dự định kéo Tám vào. Nào ngờ Tám ôm chặt tôi, tôi không vùng ra được, hai đứa cùng chìm sâu xuống dưới đáy sông. Trong óc thoáng nghĩ phen này hai đứa thế là xong. Hai đứa uống nước một lúc, nước tống hai đứa trôi mãi, trôi mãi. Mai quá bên trong có cái voi đất chỗ hàng dừa nhô ra chân chạm đất. Mừng quá hai đứa ôm chặt nhau leo lên. Len lét, lén đi vào nhà lấy quần áo thay ra, rồi lên giường ngủ. Chuyện được giấu kín, mãi sau này về Nam mới kể lại cho con cháu nghe. Bây giờ mới thấy nguy hiểm quá, lìu lĩnh quá. Biết bao nhiêu vụ học sinh cứu nhau nên chết cả đôi cả ba là chuyện bình thường. Kỷ niệm này gắn bó chúng tôi suốt đời không bao giờ quên nhau. Chơi thân từ đó đến nay hơn nửa thế kỷ.
Bạn Lâm Thị Tưởng gia đình ở Nhà Phấn cũng hơi gần trường. Mẹ bạn Tưởng thương con lắm vì ba bạn đã hy sinh ở côn đảo nên mẹ bạn thường đến thăm con. Có một lần mẹ bạn đến thăm cho bạn rất nhiều quà, trong đó có một bao cà ròn, khô sặc bổi. Bạn đem về nhà của tiểu đội Sói con, ai thân đều được bạn phân phát cho một con. Từ cha sanh mẹ đẻ tới giờ tôi đâu có biết con khô bổi bao giờ. Nghe các bạn bảo phải nướng mới ăn được. Chúng tôi nhỏ téo, đâu ai dám đi xuống bếp nướng khô. Thế là cả lũ đồng lòng đánh chén khô sống. Vì là sói con nên ăn khô sống ngon lành, chẳng nghe hôi tanh gì sấc. Cả lũ ngố ăn xong đều khoái chí đâu biết cả bọn phạm trọng tội. Sau đó nhà trường biết được kỷ luật thẳng tay. Các lũ sói con đã ăn khô sống. Mỗi đứa phải đeo con khô sống ở cổ với sợi dây lạc (trò này chẳng biết thầy cô nào là tác giả, hay anh Vàng?), chúng tôi bị kỷ luật trong sự xấu hổ ấm ức, oan uổng. Ngày đó con người còn kém khoa học, nên cho ăn khô sống như vậy là mất vệ sinh, chỉ có chó mèo, sói mới ăn như vậy nên mới ra kỷ luật hành hạ bọn nhỏ ngu si, chẳng biết phản ứng gì cả. Ngậm ngùi mà đeo sợi dây chuyền lạ đời đó. Tất cả bọn tôi đứa nào cũng tởn tới già, không dám tái phạm. Riêng Hồng Truờng đeo thì đeo sợ gì?. Tức mình kéo lên miệng gậm tiếp. Nhà trường cũng chịu thua luôn. Chẳng phạt thêm bạn gì nữa. Án phạt đó làm các nạn nhân nhớ tới già, đến chết. Sau này quãng đời làm giáo dục tôi rút kinh nghiệm để không đề ra kỷ luật quái dị như vậy với học sinh của mình. Chúng tôi cũng tha thứ cho sự ấu trĩ đó của người ra kỷ luật.
Hồi đó bếp ăn phần lớn những cô chú nấu ăn đều là những người phạm tội, chúng tôi chả tìm hiểu xem tội gì. Trại giáo hóa gửi đến phục vụ cho trường, các cô chú đều hiền lành tốt bụng, nấu ăn, cơm canh ngon ngọt. Ngày đó tôm cá nhiều nên thức ăn không bao giờ thiếu. Đến giờ ăn khi kẻng đánh người dĩa nhôm, ca nhôm xuống bếp ăn. Có một lần các cô chú nấu món lươn xào xả ớt. Các chị lớn kêu là các cô chú làm lương dơ, da lươn còn đen. Nhà trường bảo dơ thì xuống làm. Vài bữa sau lại có món lươn các chị xuống bếp mang tro trấu ra vuột con lươn trắng nhách, ngay đoan cán cuốc. Các cô chú nấu ăn chỉ cười thầm trong bụng không nói gì. Đem lươn sắt kho. Cha mẹ ơi, lươn cứng ơi là cứng, ăn chẳng ra cái gì. Từ đó chúng tôi rút ra bài học, làm lươn sạch là hết nhớt chứ không phải làm lươn trắng. Hồi đó bếp ăn có một cái ao cá. Trong ao lúc nào cũng đầy cá. Khi cần làm đồ ăn là xúc lên làm. Sau này sống ở trường nội trú hàng mười mấy năm nữa. Nhưng chẳng có nơi nào mức sống chúng tôi được cao như vậy.
Trung thu năm 1950 chúng tôi ăn Tết to lắm lần đầu tiên tôi mới biết Tết Trung thu là thế nào? Chuẩn bị tổ chức Tết trung thu, nhà trường phát cho các tiểu đội giấy kiến màu, giấy màu, tre. Các tiểu đội tổ chức làm lồng đèn, lồng đèn mấy anh chị lớn làm đủ loại lồng đèn, lồng đèn máy bay, lòng đèn ngôi sao là nhiều nhất, tôi chỉ được ngồi cắt mấy cái râu giấy mà cũng chẳng nên thân nên dáng gì. Chúng tôi đứa nào cũng có đèn xếp. Sau đó nhà trường làm một cây trung thu cao to, treo đầy quà, đẹp khủng khiếp. Lũ sói con chỉ cầu mong trời mau tối để được đi tham dự trung thu. Trời tối các tiểu đội đốt đèn. Đèn đủ loại, đẹp quá, nhìn cái nào cũng hay, cũng khéo léo, nhà trường dạy chúng tôi làm tạo hình tự làm lấy những cây đèn. Tôi nhớ năm đó hình như cây đèn có hình máy bay được hạng nhất. Sau đó đốt lửa trại hát múa quanh cây trung thu. Nhân dân quanh vùng chở lại tặng cho trường mấy ghe mía, ổi, bánh trái, chúng tôi được cho nhiều quà nhưng mọi người háo hức nhất là quà từ cây trung thu. Trong các hộp đủ mọi kiểu dáng có loại là cây viết chì, có loại là chiếc đũa, có thứ tròn tròn là quả banh bon, có cái là cục đất, có loại là quyển tập, có loại là tờ giấy màu. Từng người xếp hàng, trật tự, ai cũng được phần quà. Bản thân tôi được một cái họp tròn rất đẹp, bên trong có nhiều giấy vụn đủ màu và một cục cu li (hòn bi). Ai cũng vui sướng nhận món quà trung thu đầu đời, hồ hỡi vui ơi là vui. Đến tối về đi ngủ tôi vẫn đem cái hộp đó vào màn, cầm trong tay và ngủ một mạch đến sáng.
Đến năm 1951, ta thắng to ở chiến dịch Biên giới, giặc Pháp điên cuồng cho máy bay bắn phá vùng giải phóng của ta nhiều hơn. Trường tập trung cả trăm người vừa nhỏ vừa lớn là mục tiêu oanh tạc của máy bay địch cho nên việc canh gác máy bay, báo động là cao độ hơn. Có một lần bạn Hồng Ánh đi đâu đó về miệng la “máy bay” “máy bay” thế là cả trường cùng chạy cả ra hầm trú ẩn. Một lúc lâu chẳng thấy máy bay, giờ mọi người bèn hỏi Hồng Ánh, máy bay đâu? Hồng Ánh ngơ ngác. Em có nói máy bay đâu? Em chỉ hát “lẻ bảy “lẻ bảy” – Bài hát Tiểu đoàn 307. Vậy mà mọi người nghe ra là máy bay nên chạy. Được một phen hú vía.
Bấy lâu nay chạy máy bay nhưng tại trường chưa bị bắn phá lần nào. Bữa đó nghe kẻng báo động tất cả chạy ra hầm. Nhảy ào xuống hầm hết. Máy bay rà sát trường, bắn nhiều loạt đạn rất gần vì nghe to lắm. Chúng tôi Tám, Thanh Hà một hầm trú ẩn ngồi im ru, đứa nào cũng sợ tái mặt. Sau đó máy bay đi. Chúng tôi lên khỏi hầm mới hay máy bay bắn chết một người đàn ông vợ sinh mấy ngày hết gạo ăn. Chèo xuồng xuống Cái Keo mua gạo về đến đó bị máy bay bắn chết. Chúng tôi xót xa, chúng tôi khóc thương người xấu số. Càng căm ghét bọn Tây hung ác. Sau đó nhà trường cho chúng tôi sáng sớm tinh mơ thì đi sơ tán xuống Bà Hính. Chiều trở lại trường . Lúc này là lúc bọn bé con chúng tôi sợ quá đi thôi. Dậy lúc chưa sáng, mang hết đồ đạc trong ba lô. Hành quân lặng lẽ, trật tự. Lúc này sau Tết nên đồng ruộng sương mù dày đặc, chẳng biết lối nào, cách mấy bước đã không thấy gì nữa. Lạc chạy lung tung, chả dám kêu. Mạnh ai nấy chạy. Tôi cũng ba chân bốn cẳng , vắt dò lên cổ chạy thục mạng về phía Bà Hính. Vừa chạy vừa sợ ma, gián điệp, rắn, rít. Cuối cùng chẳng sao vẫn tới nơi như mọi người. Nhưng buổi chiều về sợ hơn vì phải đi qua nghĩa địa. Nơi đó có ngôi mộ người đàn ông bị máy bay bắn khi đi mua gạo cho vợ con. Đi ngang qua mộ tôi nhìn lắm lét, hai tay nắm chặt lại, cố đi qua cho nhanh.
Tình hình ngày một căng thẳng, máy bay ngày hoạt động liên tục hơn, nhà trường cho chúng tôi về gia đình một thời gian. Sau trường về Tân Phước thì chúng tôi được triệu tập trở lại tiếp tục học. Sau này trường gọi là trường tiểu học Trần Quốc Toản.
Nguyễn Thị Yến Thu