Tản mạn về những vần thơ
Gửi người về Thành Tây Đô
“Người về vào buổi chiều đông
Khúc quành sông đã đổi dòng từ lâu
Thành Tây mưa nắng dãi dầu
Hoa mua tím đã phai màu sắc hương.
Ngàn lần dẫu có nhớ thương
Cũng là một chút tơ vương - một thời
Nỗi niềm chi rứa - người ơi?
Từng câu, từng chữ rối bời tương tư.”
(Thu Nhự)
Nữ sĩ Thu Nhự quê hương ở thôn Phú Lĩnh, xã Vĩnh Tiến, nay là xã Tây Đô, tỉnh Thanh Hoá. Vĩnh Lộc là một vùng đất địa linh - nhân kiệt, có dòng sông Mã nên thơ và hùng vĩ chảy qua. Có Thành Nhà Hồ uy nghi, lừng lẫy - một di tích lịch sử dân tộc, đồng thời là di sản Văn hoá của Việt Nam và thế giới. Xuôi về phía nam của Vĩnh Lộc khoảng hơn mười ki lô mét là xã Vĩnh Tân và Vĩnh Minh, nơi phát tích các đời chúa Trịnh lừng lẫy suốt mấy trăm năm lịch sử. Đó cũng là quê hương người chí sĩ yêu nước Tống Duy Tân, người anh hùng của dân tộc Việt Nam. Nơi đây hội tụ của ba dòng sông hùng vĩ (sông Mã, sông Bưởi, sông Lèn), một vùng đất oai hùng đã sinh ra biết bao anh hùng, hào kiệt từ ngàn xưa đến nay.
Trở lại với Thành Nhà Hồ, ở phía đông bắc Vĩnh Lộc. Thành Nhà Hồ còn có tên gọi là Thành Tây Đô, Thành Tây Kinh hay Tây Giai, An Tôn, được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới và năm 2011. Và là một công trình kiến trúc bằng đá ấn tượng nhất của Việt Nam và thế giới. Thành Nhà Hồ được khởi công xây dựng từ năm 1397 do Hồ Quý Ly trực tiếp chỉ đạo. Mục đích xây dựng tòa thành này là để triều đình nhà Trần dời đô từ Thăng long về Thanh Hóa. Chỉ trong ba tháng, công trình vĩ đại ấy cơ bản đã hoàn thành chứng tỏ tài năng siêu việt của Hồ Quý Ly, trí thông mình, cần cù và lòng quả cảm của dân phu Vĩnh Lộc, người trực tiếp xây dựng thành. Năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi, Thành Nhà Hồ chính thức trở thành kinh đô vương triều mới.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, người dân Vĩnh Lộc luôn phát huy tinh thần yêu nước, anh dũng chống ngoại xâm. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân Vĩnh Lộc đã góp phần to lớn vào hai cuộc kháng chiền giành độc lập dân tộc. Người dân Vĩnh Lộc đã chịu đựng muôn vàn gian khổ, hy sinh. Đất Vĩnh lộc có truyền thống là "đất học", dù cho còn thiếu thốn trăm bề nhưng học trò Vĩnh Lộc vẫn vượt khó vươn lên, học tập để phục vụ đất nước.
Trong những năm tháng ấy, gia đình Thu Nhự cũng chịu cảnh gian nan như bao gia đình khác. Đọc bài thơ "Chiều thăm mộ cha" của Thu Nhự, hình ảnh người cha nghèo khó, lam lũ hiện lên sao mà xót xa:
"Cánh rừng xa chiều nay mưa giăng
Cơn lũ thoáng hiện về quá vãng
Đường Táp - Lô mỏi mòn năm tháng
Dốc Eo Lê oằn trĩu nhọc nhằn...
Lời cha về núi đỏ rừng xanh."
Cô bé Thu Nhự lúc đó còn quá bé nhỏ, thơ ngây, đâu thấu hiểu được nỗi nhọc nhằn, sự hy sinh của cha:
"Con ngây thơ đón đợi sau thành
Hoa mua tím đơm đầy nón lá."
Hình ảnh cô bé thật thơ ngây, hồn nhiên, đáng yêu biết bao. Thu Nhự cũng như bao bạn bè trang lứa, lớn lên trong chiến tranh gian khổ nhưng tâm hồn vẫn hồn nhiên, trong sáng. Dù cho cuộc sống còn nghèo nhưng càng lớn lên Thu Nhự càng xinh tươi, duyên dáng. Ngày cùng học đại học, có lần bạn kể tôi nghe một câu chuyện về ngày bạn đang học cấp II, có một thây giáo trẻ về trường thực tập. Lúc chia tay các trò để trở về trường cũ, thầy dúi vào tay cô học trò duyên dáng Thu Nhự một bài thơ, tôi nhớ nhất hai câu thơ:
"Ôi dòng sông Mã thần tiên
Tắm em từ nhỏ, lớn lên duyên tình."
Hai đứa mỗi lần nhớ về những câu thơ ấy, cùng cười nghiêng ngả. Những năm kháng chiến chống Mỹ, lớp chuyên Toán đặc biệt của tỉnh đóng tại làng quê của Nhự. Tình cờ nhà ăn của khoa lại sát ngay nhà Nhự. Thế là, các chàng thư sinh lại tranh thủ liếc trộm qua vườn, ngắm nàng thơ. Không biết có anh chàng nào viết thư về xin tiền bố mẹ, nói dối là để mua tài liệu tham khảo, nhưng để mua trâm cài tóc để tặng nàng không? Bạn tôi thật có duyên, đã để thương để nhớ cho không ít chàng trai cùng lớp và cả những chàng thư sinh lớp chuyên Toán.
Sau này mặc dù đã yên bề gia thất, bạn "theo chồng về thành phố biển" làm nghề "dạy chữ" cho các trò nhưng không ngờ hơn 50 năm sau, vẫn có một chàng trai đa tình cất công tìm về thăm "Vĩnh Lộc chiều đông", hy vọng còn được gặp "Bông hoa mua tím" của những tháng năm xưa. Anh chàng cựu học trò này thật đa tình và cũng thật tài hoa. Anh sáng tác bài thơ ngay tại bên dòng sông Mã, dưới chân thành phía tây. Bài thơ gồm bốn câu lục bát qua bài “Về thăm Vĩnh Lộc”:
Về thăm Vĩnh Lộc chiều đông
Khúc quành sông đó sao không thấy người?
Thành Tây vẫn đứng giữa trời
Bông hoa mua tím đâu rồi hỡi ai?
(Mùa đông 2020)
Chàng háo hức tìm về mong được nhìn thấy "Bông hoa mua tím” thuở xưa. Thật hẫng hụt khi cảnh còn đó mà "không thấy ngườ . "Khúc quành" của dòng sông, nơi đó ngày nào, "Bông hoa mua tím" của miền sơn cước thường ngồi giặt áo, giờ đây trống vắng "sao không thấy người?" Chỉ có dòng sông Mã chiều đông lạnh lẽo lững lờ trôi. Giờ đây, chỉ còn đó "Thành Tây vẫn đứng giữa trời" uy nghi, lặng lẽ như một chứng nhân lịch sử, từng chứng kiến những kỷ niệm tươi đẹp, thi vị một thời. Chàng trai ấy chỉ còn biết than thở tiếc thương: "Bông hoa mua tím đâu rồi hỡi ai?"
Ngưỡng mộ anh, một con người tài hoa, chung tình, có tâm hồn nhân văn cao đẹp. Thời gian đi qua đã hơn nửa thế kỷ rồi nhưng những kỷ niệm tươi đẹp một thời mãi mãi không bảo giờ mờ phai. Nhận được bài thơ ấy, Thu Nhự đã sáng tác bài thơ "Gưi người về Thành Tây Đô” như một lời nhắn gửi tâm tình:
"Người về vào buổi chiều đông
Khúc quành sông đã đổi dòng từ lâu
Thành Tây mưa nắng dãi dầu
Hoa mua tím đã phai màu sắc hương.”
Câu thơ như một tiếng thở dài xót thương "người về" trong một buổi chiều đông lạnh vắng. Nhưng đến "khúc quành sông" ngày xưa thì sông đã " đổi dòng. Câu thơ vừa có cả nghĩa thực: trải qua thời gian hơn nửa thế kỷ, trước biến thiên của đất trời, khúc quành ấy đã có những doi cát trồi lên, chia đôi dòng chảy thành hai dòng cùng chảy xuôi về phía hạ lưu. Nhưng nghĩa bóng sâu xa hơn, khúc quành sông đã "đổi dòng từ lâu". Thời gian đã làm thay đổi cả quy luật thiên nhiên, và thời gian cũng làm cho "Hoa mua tím đã phai màu sắc hương". Hình ảnh "Hoa mua tím” được lặp lại ở cả hai bài thơ như một kỷ niệm đẹp không bao giờ phai mờ về người con gái thơ ngây của chốn núi đồi và mối tình trong trắng của tuổi học trò.
Những câu thơ tiếp theo:
"Ngàn lần dẫu có nhớ thương
Cũng là một chút tơ vương một thời
Nỗi niềm chi rứa - người ơi
Từng câu, từng chữ rối bời tương tư."
Sự trở lại của người xưa đã làm xáo trộn những tình cảm mãnh liệt, nhớ thương mà người con gái đoan chính trong bạn đã phải chôn chặt trong lòng. Bạn xác định, dù cho ngàn lần dẫu có nhớ thương" thì cũng là những rung động nhất thời của tuổi trẻ, “Cũng là một chút tơ vương - một thời ", giờ đây ai cũng đã có bến đỗ bình yên. Những câu chữ thắm thiết gửi gắm trong thơ chỉ làm cho mỗi người "rối bời tương tư".
Bạn rất giàu tình cảm nhưng cũng luôn thể hiện là một phụ nữ đoan chính, rạch ròi. Điều đó chắc càng làm cho "người ấy" nể trọng và hình ảnh " Bông hoa mua tím” mãi tươi đẹp dù cho bao năm tháng đã đi qua .
18/6/2026
Mình Tâm Nguyễn