TÌNH CHA CON SÂU NẶNG TRONG CẢNH NGỘ ÉO LE CỦA CHIẾN TRANH QUA TRUYỆN NGẮN “CHIẾC LƯỢC NGÀ” (NGUYỄN QUANG SÁNG)

Ths Nguyễn Huyền Nga

Nguyễn Quang Sáng quê ở huyện Chợ Mới tỉnh An Giang. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là bộ đội hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau 1954 tập kết ra miền Bắc, Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn. Những năm chống Mĩ, ông về miền Nam tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học. Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng có nhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến cũng như sau hòa bình. Truyện “Chiếc lược ngà” được viết năm 1966 khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ, được in trong tập truyện cùng tên. Bằng việc tạo tình huống bất ngờ mà tự nhiên hợp lí, đoạn trích truyện “Chiếc lược ngà” thể hiện thật cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.

Như chúng ta đều biết, đề tài về tình cảm gia đình luôn là mạch nguồn cảm xúc của văn chương nghệ thuật từ xưa đến nay, từ đông sang tây. Ca dao Việt Nam ngập tràn bóng dáng người mẹ, người cha, tạo thành dòng chảy đi vào thơ văn hiện đại với “Lời ru của mẹ” (Xuân Quỳnh), “Mẹ ốm” (Trần Đăng Khoa), “Bầm ơi” (Tố Hữu), “Những cánh buồm” (Hoàng Trung Thông),… Cũng từ đó, tình cảm gia đình thiêng liêng được bồi đắp trong trái tim mỗi người, là sức mạnh, là niềm tin trong cuộc sống. Đồng thời, tình cảm gia đình là cái nôi sinh ra những tình cảm cao đẹp khác. Và tình cảm thiêng liêng ấy được đặt trong bối cảnh chiến tranh lại càng nổi bật, đậm đà. “Chiếc lược ngà” là một trong số đó.

Truyện kể về ông Sáu, một nông dân Nam Bộ, yêu nước, xa nhà đi kháng chiến khi Thu - đứa con gái bé bỏng chưa đầy một tuổi. Mãi khi Thu tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặt ông làm ông không còn giống với người trong bức ảnh mà em biết. Em cư xử với ba như người xa lạ. Đến lúc nhận ra cha, tình cha con thức dậy mãnh liệt thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Ở khu căn cứ, Ông Sáu dồn hết tình cảm yêu quí, thương nhớ con vào việc làm cây lược bằng ngà voi để tặng đứa con gái bé bỏng. Thế nhưng, trong một trận đánh, ông đã hi sinh. Trước lúc nhắm mắt, ông chỉ kịp trao cây lược cho người bạn để gửi về cho con.

Truyện viết trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nhưng lại tập trung nói về tình người, ở đây chính là tình cha con sâu sắc, được thể hiện trong hai tình huống: tình huống thứ nhất là cuộc gặp gỡ của hai cha con sau tám năm xa cách, nhưng trớ trêu thay con lại không nhận ra cha. Đây là tình huống cơ bản của truyện. Tình huống thứ hai là sự việc ông Sáu dồn tất cả tình yêu để làm tặng con gái chiếc lược ngà nhưng ông lại ra đi khi chưa kịp trao tận tay con gái món quà đó. Có thể nói, nếu tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với cha thì tình huống thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha đối với con. Tình cảm ấy đã vẽ nên một bức tranh buồn nhưng đẹp và thiêng liêng về tình cảm gia đình nói chung, tình cha con nói riêng trong tình cảnh éo le vì chiến tranh.

1. Thu – đứa trẻ cá tính với một tình yêu thương cha mãnh liệt

Nhân vật bé Thu – một em gái tám tuổi là nhân vật thứ nhất của truyện, có một tình yêu cha thật đằm thắm, mãnh liệt. Cha đi chiến đấu biền biệt xa nhà, đến khi Thu lên tám tuổi, hai cha con mới được gặp nhau. Cô bé tóc cắt ngang vai, hồn nhiên xinh đẹp. Mới nhìn, ông Sáu đã nhận ra ngay con gái của mình, vậy mà nhìn thấy cha bé Thu đã tròn mắt nhìn, ngơ ngác lạ lùng, tái mặt đi, vụt chạy và kêu thét lên: “Má! Má!”. Rồi suốt trong ba ngày cha ở nhà Thu đã không nhận ra cha… Tâm lí và thái độ của Thu được biểu hiện qua hàng loạt các chi tiết mà người kể chuyện quan sát và thuật lại rất sinh động: nhất định không chịu gọi ông Sáu là cha; nhất định không nhờ ông Sáu chắt giùm nước nồi cơm đang sôi to; hất cái trứng cá mà ông gắp cho; cuối cùng khi bị ông Sáu tức giận đánh một cái thì bỏ về nhà ngoại, khi xuống xuồng còn cố ý khua dây cột xuồng kêu rổn rảng thật to… Cái sự nói năng cộc lốc, cư xử vùng vằng, ương ngạnh, ngờ vực; cái thái độ lạnh nhạt, lảng tránh xa cách, thậm chí còn có những hạnh động vô lễ với ông Sáu ấy khiến cho tình cảm cha con tưởng chừng không hình thành được.

Tuy nhiên sự ương ngạnh của bé Thu lúc mới gặp cha là hoàn toàn không đáng trách. Bởi vì trong hoàn cảnh xa cách và trắc trở của chiến tranh, nó còn quá nhỏ để có thể hiểu được những tình thế khắc nghiệt, éo le của đời sống. Mặt khác, người lớn cũng không ai kịp chuẩn bị cho nó đón nhận những khả năng bất thường nên nó không tin ông Sáu là ba. Chỉ vì trên mặt ông có thêm vết thẹo khác với hình ba mà nó đã được biết. Phản ứng tâm lí của bé Thu là hoàn toàn tự nhiên. Nó chứng tỏ em có cá tính mạnh mẽ, tình cảm sâu sắc chân thật. Thu chỉ yêu ba khi tin chắc đó đúng là ba. Trong cái cứng đầu của Thu có ẩn chứa cá sự kiêu hãnh trẻ thơ về một tình yêu dành cho người cha khác.

Song, đến buổi cuối cùng, trước khi ông Sáu phải lên đường, thái độ và hành động của bé Thu đã đột ngột thay đổi hoàn toàn. Tình phụ tử thiêng liêng đã cháy bùng lên. Khi nhìn thẳng đối diện với người cha “đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”. Đằng sau đôi mắt mênh mông, xôn xao đó là biết bao ý nghĩ, tình cảm đang xáo động trong lòng. Có được sự xôn xao đó trong đôi mắt là kết quả của cả một đêm “lăn lộn, thở dài như người lớn ở nhà ngoại”. Nó lăn lộn, nó thở dài có lẽ vì nó ân hận, quá giận mình, rất thương ba và mong cho trời chóng sáng để có thể chạy về nhà.

Lần đầu tiên, khi không ai ngờ tới, Thu cất tiếng gọi ba. Đó là tiếng kêu như tiếng xé, xé không khí và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng ba Thu đã kìm nén bao năm nay. Tiếng ba như vỡ tung ra từ đáy lòng nó. Và đau đớn thay, đây là tiếng gọi ba đầu tiên cũng là tiếng gọi cuối cùng trong cuộc đời cô bé. Sau tiếng gọi ba là một loạt những hành động “nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó nhảy thót lên, giang hay tay ôm chặt lấy cổ ba nó rồi nó hôn ba nó cùng khắp, hôn cả vết thẹo dài trên má của ba”. Tất cả những hành động đó đều biểu hiện một tình cảm ruột thịt nồng nàn của đứa con đối với cha. Tình yêu và nỗi mong nhớ của nó bùng lên thật mãnh liệt, hối hả, cuống quýt có xen lẫn sự hối hận. Và khi nghe ông Sáu nói: “Thôi, ba đi nghe con”, nó đã thét lên “Không!” rồi “hai tay xiết chặt cổ ba nó, giang cả hai chân câu chặt lấy ba, đôi vai nhỏ bé rung rung”, bé Thu khóc. Đó là tiếng khóc của sự xót xa ân hận vì lỗi lầm của mình, vì thương ba đau khổ. Khi hiểu ra mọi lẽ, khi nhận ra cha thì đã quá muộn. Do đó tất cả mọi hành động của Thu đối với cha như muốn đền bù những hụt hẫng đã qua. Chứng kiến những biểu hiện tình cảm ấy, trong cảnh ngộ cha con ông Sáu phải chia tay, có người không cầm được nước mắt. Riêng bác Ba – người kể chuyện cảm thấy như có bàn tay cứ nắm lấy trái tim mình. Nhà văn viết không nhiều, chỉ bằng một chi tiết đó thôi nhưng đủ cho ta xúc động trước nỗi niềm và tâm trạng của nhân vật.

Tóm lại, tình cảm của bé Thu đối với cha thật sâu sắc, mạnh mẽ, thật dứt khoát rạch ròi. Thu là đứa trẻ có cá tính cứng cỏi đến mức ương ngạnh nhưng hồn nhiên, ngây thơ, đáng yêu. Giờ đây, Thu không chỉ yêu ba, em còn tự hào về ba. Chính niềm yêu thương và tự hào ấy đã trở thành sức mạnh thôi thúc và rèn giũa để sau này Thu trở thành cô giao liên mưu trí, dũng cảm gan dạ. Qua những diễn biến tâm trạng, tình cảm của bé Thu, ta thấy tác giả tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ và quan trọng hơn bởi ông có tấm lòng yêu mến, trân trọng những tình cảm trẻ thơ đó.

2. Ông Sáu - một người cha đã hi sinh cả cuộc đời mình để giữ gìn tình cha con bất diệt

Vì cuộc chiến đấu chung của dân tộc, ông Sáu đã mang vết thẹo trên mặt, đã hi sinh cả vẻ đẹp của một thời trai trẻ. Đấy là nỗi đau về thể xác. Mấy ngày về thăm nhà, ông phải trái qua nỗi đau về tinh thần vì đứa con gái duy nhất mà ông hằng mong nhớ không chịu nhận ông là cha, không chịu gọi ba. Hẳn người đọc chúng ta không thể quên được hành động của ông Sáu khi mới về thăm nhà: “Cái tình người cha cứ nôn nao trong con người anh, không thể chờ xuồng cập bến, anh nhảy thót lên bờ, chạy lại bên con, giọng lập bập run run “Ba đây con!”. Thế nhưng đáp lại tình cảm ấy của ông là nỗi sợ hãi và kêu cứu của con. Ông như chết lặng đi trông thật đáng thương, tội nghiệp. Suốt ba ngày ở nhà, ông không đi đâu, chỉ tìm cách gần gũi, vỗ về con, nhưng càng an ủi vỗ về thì con càng lạnh nhạt, xa cách.

Cho đến phút cuối cùng, trước lúc chia tay, ông mới được hưởng niềm hạnh phúc của người cha, đó là nghe con gọi mình là ba và được đón nhận những cử chỉ, hành động yêu thương nồng nhiệt của con gái. Quá bất ngờ, xúc động, hạnh phúc, ông lén con lau vội những giọt nước mắt vừa sung sướng vừa đau đớn, xót xa.

Vì nhiệm vụ đối với đất nước, ông không thể ở lại với con. Trở về khu căn cứ, ông mang nỗi ân hận đã đánh con và lời con dặn trước lúc chia tay vào việc làm một chiếc lược ngà tặng con. Chỉ kiếm được khúc ngà voi, ông đã vô cùng sung sướng, giành hết tâm trí, công sức vào làm chiếc lược. “Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược thận trọng, tỉ mỉ, kì công như một người thợ bạc. Trên sống lưng lược có khắc dòng chữ “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Chiếc lược ấy chưa chải được mái tóc con nhưng như gỡ được phần nào tâm trạng của ông. Nó trở thành vật thiêng, an ủi ông, nuôi dưỡng trong ông tình cha con và sức mạnh chiến đấu. Hàng đêm, ông nhìn ngắm chiếc lược, mài nó lên tóc cho thêm bóng thêm mượt. Tác giả không miêu tả rõ nhưng người đọc vẫn hình dung được cái kỉ vật nhỏ bé mà thiêng liêng ấy mỗi ngày một thêm bóng, thêm mượt. Đó cũng là biểu tượng trắng trong, quý giá, bất diệt của tình cha con giữa ông Sáu và bé Thu. Do đó, trước lúc hi sinh, không đủ sức nói một lời trăng trối, ông vẫn nhớ tới chiếc lược và chuyển giao nó cho người bạn như một cử chỉ chuyển giao sự sống, một ước nguyện gìn giữ muôn đời tình cha con ruột thịt. Điều đó đúng như ông Ba đã nói: “Có lẽ chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Chiếc lược ngà – kỉ vật của người cha – kỉ vật của người đã khuất mãi mười năm sau mới tìm được địa chỉ, mới được trao lại cho đứa con gái bé bỏng để “tình cha con không chết”. Và hơn thế nữa, nó đang sống lại trong sự sống của người bạn, người đồng chí với bé Thu. Như vậy, câu chuyện “Chiếc lược ngà” không chỉ ca ngợi tình cha con đậm đà sâu nặng bất diệt, ca ngợi tình đồng chí đồng đội mà còn gợi cho người đọc thấm thía những nỗi đau thương mất mát, éo le mà chiến tranh gieo xuống cho bao con người, bao gia đình trên đất nước Việt Nam.

Chiến tranh! Hai tiếng vang lên nghe thật thương tâm, cũng chính vì hai tiếng đó mà bao người phải khổ đau. Chiến tranh tàn khốc, gây ra các cuộc sinh ly tử biệt, vợ xa chồng, cha xa con, con xa nhà. Chiến tranh không thể tha thứ khi đã cướp đi sinh mạng, xương máu của biết bao người con Việt Nam. Rồi cũng qua chiến tranh, những tình cảm thiêng liêng nhất của cuộc đời, tình yêu đôi lứa, tình đồng chí đồng đội, tình yêu quê hương và đặc biệt nhất là tình cảm gia đình được bộc lộ sâu đậm, nhân bản nhất.

Chúng ta đã từng cảm động biết bao trước tình bà cháu ấm áp, thấm thía trong “Bếp lửa” của Bằng Việt (1963). Bài thơ là lời của người cháu ở nơi xa nhớ về người bà tần tảo, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh, cùng những kỉ niệm tuổi thơ êm đềm bên bà – dù bị bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945 bao trùm nhưng bà và bếp lửa vẫn “chờn vờn” mỗi sớm, vẫn “ấp iu nồng đượm” mỗi ngày. Bà là người giữ lửa và cũng là người truyền lửa cho thế hệ sau. Với “Con cò” (Chế Lan Viên - 1962), nhà thơ nói về sự che chở ấm áp của người mẹ trên suốt đường đời của con thông qua hình ảnh biểu tượng con cò cùng nhịp điệu bài thơ như những lời hát ru êm ái của mẹ. Tình mẫu tử được thể hiện giản dị mà yên bình, sâu sắc. Hay “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” (Nguyễn Khoa Điềm) dạt dào tình yêu con của người mẹ Tà Ôi… Còn Y Phương, qua bài thơ “Nói với con” đã đem đến cho ta vẻ đẹp tình cha con thắm thiết trong lời dặn chân thành, mộc mạc mang đậm chất dân tộc Tày. Bài thơ như là một khúc tâm tình của người cha, thể hiện lòng yêu thương con của người miền núi và mong ước thế hệ con cái phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương.

Còn Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng đã phát hiện ra vẻ đẹp tình cha con thiêng liêng trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Khác với những tác phẩm khác, hai cha con ông Sáu không có nhiều kỉ niệm bên nhau. Cả hai cha con mất 8 năm mới được gặp nhau trong vài ngày ngày ngắn ngủi. Và đau đớn thay trong vài ngày ngắn ngủi ấy, tình cha con chỉ được bộc lộ qua mấy phút chia tay cuối cùng. Tiếng gọi ba đầu tiên cũng là tiếng gọi ba cuối cùng, cái ôm đầu tiên của hai cha con cũng là cái ôm cuối cùng. Thế nhưng dù thời gian có ít ỏi, dù bên nhau không nhiều nhưng sợi dây tình cảm cha con giữa ông Sáu và bé Thu vẫn mãi vững bền, không bom đạn nào có thể chia cắt. Dù ông Sáu có mất đi trước khi gặp lại con lần nữa, dù Thu vĩnh viễn không còn được gọi ba lần nữa nhưng chúng ta biết hình ảnh ông Sáu vẫn còn mãi trong tim em.

Nếu những nhà thơ như Bằng Việt, Chế Lan Viên, Nguyễn Khoa Điềm, Y Phương … đã mở ra một không gian ngập tràn cảm xúc – không gian gia đình, với những đứa con được bao bọc chở che trong tình yêu thương của cha mẹ thì “Chiếc lược ngà” lại khiến chúng ta ngậm ngùi, nuối tiếc, xót xa, thương cảm cho tình cha con của ông Sáu và bé Thu phải chịu nhiều mất mát, không trọn vẹn …

Gấp lại truyện “Chiếc lược ngà”, hình ảnh hai cha con ông Sáu và những tình cảm của họ vẫn còn để lại ấn tượng trong lòng người đọc. Điều gì đã làm nên sức sống, sức hấp dẫn của các nhân vật cũng như của truyện? Trước hết, đó là vì tác giả đã xây dựng được một cốt truyện chặt chẽ, hợp lí, đã tạo được những tình huống éo le, cảm động. Thứ hai là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí, tính cách nhân vật tài tình, giọng kể nhẹ nhàng, đằm thắm, cách kể quá khứ xen hiện tại. Ngoài ra, cách chọn ngôi kể cũng là một nghệ thuật đặc sắc của truyện. Kể theo ngôi thứ nhất, bác Ba vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật trong câu chuyện nên càng có tác dụng làm cho câu chuyện như thật và dễ đi vào lòng người.

Tóm lại, bằng việc tạo tình huống bất ngờ mà hợp lí, tự nhiên, miêu tả tâm lí, xây dựng tính cách nhân vật tài tình, đoạn trích truyện “Chiếc lược ngà” đã thể hiện thật cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Qua cuộc đời các nhân vật, nhà văn muốn nói rằng: trong cuộc kháng chiến gian khổ chống ngoại xâm vừa qua của dân tộc, tình nghĩa giữa những con người Việt Nam nhất là tình cha con, tình đồng chí đồng đội, tình yêu đất nước, sự gắn bó giữa thế hệ già và trẻ, thế hệ trước và sau, giữa người sống và người chết là mãi mãi bất diệt.

Ths Nguyễn Huyền Nga

TÌNH CHA CON SÂU NẶNG