Không gian là một hiện tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học – Nguyễn Văn Thành

Không gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật. Không có hình tượng nghệ thuật nào thoát ly khỏi không gian, không có nhân vật nào không có một nền cảnh để xuất hiện. Không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra từ điểm nhìn, cách nhìn của nhà văn. Không gian nghệ thuật cũng được miêu tả bằng các hình thức của không gian đời sống nhưng mang một giá trị mới, một giá trị thẩm mỹ mà nhà văn đã xây dựng. Như vậy không gian nghệ thuật chính là không gian cảm nhận trong quan niệm thẩm mỹ chủ quan đồng thời tác động đến người đọc qua tính ước lệ cũng như hình tượng nghệ thuật.

Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học luôn có ranh giới phân biệt với không gian vật chất bên ngoài. Nó thể hiện ở tính chất của một thế giới tinh thần. Mỗi nhà văn, nhà thơ đều có cách nhìn, cách nghĩ, cách lý giải về cuộc sống theo cảm nhận riêng, chính vì thế nên sự chọn lựa không gian nghệ thuật của từng văn nghệ sĩ đều có những nét đặc trưng khu biệt, không trùng lắp. Với Nguyễn Khuyến, cái làng quê yên ả bình dị của vùng chiêm trũng Hà Nam chừng như kết tinh trong cái ao bé nhỏ thanh khiết vô ngần :

“ Nước biếc trông như từng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào”

( Thu vịnh _ Nguyễn Khuyến)

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.”

( Thu điếu _ Nguyễn Khuyến)

“Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.”

( Thu ẩm _ Nguyễn Khuyến)

Không có cái không gian “ao tù nước đọng” trong khái niệm thường gặp của cuộc sống, chiếc ao đã trở thành hình tượng nghệ thuật trong thơ của Nguyễn Khuyến. Tác giả đã nâng những cái vốn bình dị thầm lặng thành giá trị thẩm mỹ để chuyển tải thông điệp về cuộc sống về tình cảm để đến với người đọc. Không gian nghệ thuật luôn mang tính tượng trưng. Các hình ảnh, trật tự không gian trong văn học đều gắn với một thế giới mang giá trị tư tưởng thẩm mỹ. Trong thơ nữ sĩ Hồ Xuân Hương, chừng như cái không gian có gì đó chênh vênh, trắc trở :

“Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo

Kìa đền Thái Thú đứng cheo leo.”

( Đề đền Sầm Nghi Đống)

Hay : “Đường lên thiên thẹo đá cheo leo” ...

Sự chọn lựa không gian thường có tính lặp lại tạo nên quy luật. Điều đó tạo nên quan niệm của người nghệ sĩ về thế giới. Không gian trở thành hình tượng nghệ thuật chứa đựng thông điệp của tác giả. Không gian nghệ thuật của Huy Cận trong Tràng giang là thân phận bé nhỏ của con người trong cái vô cùng tận của đất trời, là tâm trạng lạc loài, cô độc của con người:

“ Nắng xuống trời lên sâu chót vót,

Sông dài trời rộng bến cô liêu.”

(Tràng giang _ Huy Cận)

Hay với Nguyễn Bính không gian đó là vùng làng quê của xã hội thời trước ít bị tác động của nền văn minh phương Tây:

“Sáng trăng sáng cả vườn chè,

Một gian nhà nhỏ đi về có nhau”

( Nguyễn Bính)

“Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,

Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn.”

( Nguyễn Bính)

Nguyễn Bính dẫu là một con người “Đa đoan vó ngựa” nhưng không gian nghệ thuật của nhà thơ luôn mang đậm nét “chân quê” của không gian với cây đa đầu làng, quán nước, cơi trầu, của hội chèo … với những con người chân chất, dung dị bên cánh đồng làng. Không gian nghệ thuật là ngoại cảnh để miêu tả tâm cảnh. Một cảnh sắc có đầy đủ các yếu tố để tạo nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp khi Kiều về Lầu Ngưng Bích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du với non xa, ánh trăng, cát vàng, bụi hồng của một không gian “bát ngát xa trông” ấy đã trở nên hỗn độn trước mắt Kiều. Bởi lẽ “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ?” (Nguyễn Du). Nỗi buồn con người thấm lên ngàn cây nội cỏ để cảnh vật mang theo hồn nhân vật. Đó là dụng ý nghệ thuật trong sáng tác của người viết.

Không gian nghệ thuật là nghệ thuật sáng tạo của nhà nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống. Ứng với các kiểu không gian ấy có những kiểu nhân vật khác nhau. Một Xuân tóc đỏ của Vũ Trong Phụng phải tồn tại trong không gian đô thị chứa đựng những thị dân bị tha hóa, lưu manh, rởm đời. Không gian của ông Giáo, Lão Hạc, Thứ ... (những nhân vật của Nam Cao) hiện hữu trong làng quê nghèo Việt Nam trước năm 1945 ... Không gian nghệ thuật là trường nhìn, mà trong đó điểm nhìn của tác giả giữ vị trí quan trọng. Đó là nhân sinh quan, vũ trụ quan của người nghệ sĩ. Không gian nghệ thuật trong thơ của Tố Hữu thường là những con đường mang tính tượng trưng của lý tưởng “Đường ta rộng thênh thang tám thước” hay trong Từ ấy là một bức tranh giàu hình ảnh, đầy sắc màu và niềm hân hoan của tuổi trẻ đầy ắp khát vọng, bắt gặp ánh sáng chân lý:

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đặm hương và rộn tiếng chim.”

(Từ ấy – Tố Hữu)

Không gian là một hiện tượng trong tác phẩm văn học được chia thành những ranh giới giá trị. Đó là ranh giới bên ngoài, bên trong; là khả biến và bất biến; là thế giới cởi mở và thế giới khép kín … với điểm nhìn, trường nhìn, môi trường hoạt động, không gian nghệ thuật trở thành phương tiện chiếm lĩnh đời sống gắn với ý nghĩa và giá trị, không gian nghệ thuật trở thành ngôn ngữ, biểu tượng nghệ thuật với tính ước lệ tượng trưng. Ví dụ những hình ảnh như Tây trúc, thiên đình, địa ngục, mái đình bến sông … Việt Bắc trong thơ Tố Hữu trở thành không gian nghệ thuật, trở thành biểu trưng của cuộc kháng chiến. Hay hình ảnh dòng sông trong cuộc tiễn đưa của Thâm Tâm mang tính ước lệ tượng trưng :

“Đưa người ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong.”

(Tống biệt hành)

Bên cạnh đó, không gian nghệ thuật được biểu thị bằng những từ không gian vốn được mã hóa sẵn về ý nghĩa trong đời sống như trên cao dưới thấp, cây đa, ngõ trước, ngõ sau …

“Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.”

(Ca dao)

“Gió đưa bụi chuối sau hè

Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.’

(Ca dao)

Và cũng chính các yếu tố này làm cho không gian thắm đượm nội dung văn hóa truyền thống. Không gian nghệ thuật không chỉ là điểm nhìn không gian mà còn cả điểm nhìn thời gian. Một Cao Bá Quát trong Uống rượu tiêu sầu đã thể hiện thái độ bất cần khinh miệt trật tự xã hội đương thời :

“Dưới thiều quang thấp thoáng bóng Nam san

Chợt ngoảnh lại cửu hoàn xem cũng nhỏ”.

Thời gian ở đây là chiều thứ tư của không gian, là điểm nhìn tâm lý tư tưởng.

Không gian là một hiện tượng nghệ thuật, mỗi thể loại có những nét riêng về không gian nghệ thuật như không gian trong thần thoại, sử thi, không gian trong cổ tích, trong thơ, trong tiểu thuyết lãng mạn, hiện thực, tâm lý … là những đại lượng rất khác nhau về tính chất để tạo nên nét đặc trưng của thi ca.

Không gian nghệ thuật là mảnh đất sống của nhân vật, là phương thức tồn tại của tác phẩm, là cách nhìn của nhà nghệ sĩ đối với cuộc sống và chính không gian là một hiện tượng nghệ thuật trong cuộc sống.

Không gian nghệ thuật trong thơ Huy Cận

Trong Thi nhân Việt Nam, khi giới thiệu về Huy Cận, Hoài Thanh – Hoài Chân có nhận định: “Cái buồn trong Lửa thiêng là cái buồn lan tỏa ra từ đáy hồn thơ của một con người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh … Huy Cận đã sống một cuộc đời rất bình thường, nhưng người luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong …”. Đó là một nhận định sâu sắc và tinh tế. Bút pháp chủ yếu của Huy Cận không phải miêu tả những ngoại cảnh, mà chính ngoại cảnh đã ngấm vào trong hồn thơ để miêu tả tâm cảnh. Không gian nghệ thuật trong thơ Huy Cận là cả một thế giới bên trong sâu lắng bàng bạc mông mênh trong cảm xúc.

Lấy cảm hứng từ vũ trụ, thiên nhiên trong Lửa thiêng – Huy Cận là cõi bao la trong nỗi buồn mênh mang, là sự cảm nhận thân phận bé nhỏ cô độc của con người trước vũ trụ, là cái hữu hạn đời người trước vô tận của đất trời, là cả một không gian bên trong của hồn thơ “ảo não”, bơ vơ. Đi tìm những nét đặc trưng trong thi pháp nghệ thuật của Huy Cận, thế giới nội tâm sâu lắng qua hình ảnh của không gian như: dòng sông, bầu trời, con đường, biển cả… Song tất cả cũng để toát lên nỗi buồn thiên cổ, nỗi buồn như từ thưở con người cảm nhận được kiếp người, cảm nhận cái tôi bé nhỏ của một linh hồn lạc loài chấp chới. Phải đến sau Cách mạng tháng Tám, cuộc chiến đấu lao động xây dựng đất nước đã thổi vào hốn thơ Huy Cận một nguồn gió mới làm thay đổi điểm nhìn, cách nhìn của nhà thơ. Vẫn bút pháp tài hoa lãng mạn, vẫn cảm hứng về vũ trụ nhưng hồn thơ thi nhân căng tràn nhựa sống, đấy ấp niềm tin “Trời mỗi ngày lại sáng”. Điểm nhìn đã thay đổi tất yếu tứ thơ cũng thay đổi, hình tượng thiên nhiên, vũ trụ cũng thay đổi và tạo nên thông điệp mới về con người, cuộc sống. Tìm hiểu từng chặng đường thơ cuả Huy Cận từ Lửa thiêng đến Trời mỗi ngày lại sáng, rồi Đất nở hoa là để khám phá thế giới nội tâm phong phú trong không gian nghệ thuật cũng là việc làm của Thi pháp học.

Bắt đầu từ những vần thơ trong tập Lửa thiêng, không gian nghệ thuật của Huy Cận thường gắn liền với những dòng sông mênh mông nước :

“ Cây xanh còn đẹp xui tay với.

Sông mát tràn xuân nước đậm bờ.”

(Xuân)

“Nắng đã xế về bên xứ bạn;

Chiều mưa trên bãi, nước sông đầy.”

(Vạn lý tình)

Sông nước cứ duềnh lên, cứ mênh mông không tìm thấy đâu là bến bờ. Đó chính là dòng cảm xúc. Không gian nghệ thuật của nhà thơ như kéo dài vô tận :

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng.”

(Tràng giang)

Giữa cái mênh mông của sông dài trời rộng, một con thuyền trôi xuôi, một cành củi khô lạc giữa dòng, đó là biểu tượng thân phận con người bất lực, bơ vơ giữa dòng đời, giữa thiên nhiên. Cái cảm giác cô đơn của con người trong thơ Huy Cận không chỉ đặc trong không gian ba chiều mênh mông bát ngát mà còn có cả chiều thứ tư : chiều thời gian (sóng gợn tràng giang), đó là nỗi buồn nhân thế từ ngàn xưa vọng về theo cơn sóng gợn để lay động tâm thức nhà thơ. Không gian vô định, thời gian vô tận chỉ con người nhỏ bé hữu hạn. Giáo sư Phan Cự Đệ đã gọi đó là “Cái buồn trong cuộc đời thực thành những dòng lệ trong văn chương”. Theo quan niệm mỹ học của các nhà thơ mới, cái đẹp luôn gắn với cái buồn, cái buồn trong Tràng giang cứ chất chồng tầng tầng lớp lớp, cứ luôn hiện hữu như từng cơn sóng gợn mặt nước sông dài, và thiên nhiên được cá thể hóa thành “Củi một cành khô” lạc giữa dờng trôi vô định, thành những cánh bèo dật dờ nước cuốn :

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.”

(Tràng giang)

Thân phận bọt bèo, trôi về đâu ? Không gian với tính ước lệ tượng trưng qua hình ảnh những cánh bèo trôi. Nhà thơ mang cả nỗi buồn thời thế, mang cả tâm trạng cô độc trong thế giới nội tâm sâu thẩm trong không gian hiu quạnh. Không một con đò, không một chiếc cầu, không chợ, không khói chiều, chỉ có thi nhân cô độc dưới bóng chiều lặng ngắm những cánh bèo cứ lặng lẽ nối tiếp nhau phiêu dạt qua bờ xanh bãi vàng hiu hắt để nỗi buồn cứ dợn lên cứ lan tỏa thấm sâu nỗi nhớ quê nhà của thân phận lạc loài.

Không gian bên ngoài đi vào thơ Huy Cận thành thế giới nội tâm, nhà thơ thường chọn những khoảng cách vô tận mang tính đối lập :

“Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”

(Tràng giang)

“ Lên bề cao hay đi xuống bề sâu ?

Không biết nữa – Có chút gì làm ngợp.”

(Đi giữa đường thơm)

“Nắng đã xế về bên xứ bạn,

Chiều mưa trên bãi nước sông đầy.”

(Vạn lý tình)

Không có sự giao thoa, chỉ có khoảng cách mưa – nắng, dài – rộng, lên – xuống, cao – sâu … Ngay cả trong lời tự tình tuyệt đẹp của Ngậm ngùi, không gian cũng bị chia cắt trên cũng một bãi sông :

“Nắng chia nửa bãi chiều rồi,

Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu.”

(Huy Cận)

Đó chính là nỗi cô đơn dằn xé đến tột cùng. Nếu như Xuân Diệu :

“Hôm nay trời nhẹ lên cao,

Tôi buồn không hiểu vỉ sao tôi buồn:”

Thì Huy Cận lại mang đến một trường liên tưởng rất lạ tạo cho người đọc một cảm giác không gian như đè nén lên tâm can để con người có thể cân đo không gian trong thoáng mơ hồ :

“Tai nương giọt nước mái nhà,

Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn.”

(Buồn đêm mưa)

Hay : “Rơi rơi … dìu dịu rơi rơi.

Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ.”

(Buồn đêm mưa)

Cái buồn vô cớ mà vẫn cứ buồn, chừng như cái buồn ấy cứ chực chờ một ngoại cảnh nào đó có tác động hay không thì vẫn tuôn tràn. Những giọt mưa là những giọt buồn tích tụ, lắng đọng trong cảm giác lả tả mơ hồ của cõi vô thức.

Không gian nghệ thuật luôn có ranh giới với không gian vật chất bên ngoài, nó là thế giới tinh thần là điểm nhìn của nhà thơ, Huy Cận chọn không gian của buổi chiều trong Ngậm ngùi hay buổi trưa trong Đi giữa đường thơm để hai nhân vật bên nhau trong tình yêu, thế mà vẫn cứ :

“Tay anh em hãy tựa đầu,

Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi.”

(Ngậm ngùi)

“Cả không gian rất hồn hậu thơm tho

Gió hương đưa mùi dìu dịu phất phơ.”

(Đi giữa đường thơm)

Huy Cận đặt cả hai người trong không gian chứa đủ những yếu tố của tình yêu, thế mà “người” và “tôi” cũng không đưa nhau đến bến bờ hạnh phúc, vẫn không tìm được sự đồng cảm của hai tâm hồn cô đơn :

“Chân hết đường thì lòng cũng hết yêu”

(Đi giữa đường thơm)

Trong tập thơ Lửa thiêng, Huy Cận không vẽ nên những bức tranh hoành tráng của thiên nhiên, không tô vẽ sắc màu rực rỡ mà chủ yếu là sắc màu tâm tưởng, bàng bạc, đìu hiu heo hút của ngôi làng vùng sơn cước, là tiếng thở dài, tủi nhục của người dân mất nước, là tâm trạng cô đơn đến tột cùng của con người trước vũ trụ. Cách mạng tháng Tám là cuộc tái sinh màu nhiệm để “Những đảo cô đơn, Đảng nối nhịp cầu” (Lệ –Xuân Diệu), và “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm” đã thay đổi điểm nhìn, tầm nhìn về cuộc sống. Từ thân phận bé nhỏ, nô lệ của con người mất tự do, nhà thơ đã đạt con người ngang tầm thiên nhiên trong tư thế mới : tư thế con người làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên. Và có lẽ phải đến cuối những thập niên năm mươi, tâm hồn thơ mới dạt dào nhựa sống thời đại, bài thơ Chiều thu quê hương viết năm 1958 vẽ cảnh chiều thu đầy sắc màu tràn đầy niềm yêu thương :

“Chiều thu trong, lá trúc vờn đẹp quá,

Lá mía nhung xanh quạt vào mái rạ

Tiếng lao xao như ai ngã nón chào.

Hoa mướp cuối mùa vàng rực như sao.

Giếng trong lẻo, trời xanh in thăm thẳm,

Chiều thu quê hương sao mà đằm thắm”

(Chiều thu quê hương)

Cả chiều thu vàng rực hòa quyện vào tâm hồn, nhà thơ thu nhận những nét đặc trưng tinh túy của làng quê trong tình yêu tha thiết, tự hào, niềm tự hào của con người tự do. Không gian nghệ thuật rộng mở nhưng lại gần gũi thân tình. Điểm nhìn đã đổi thì tầm nhìn cũng khác, Cảm xúc của con người mới trong buổi đầu xây dựng đất nước đã nâng cách nhìn về vũ trụ lên tầm cao mới, vẫn hồn thơ lãng mạn, nhưng không còn nỗi cô đơn mêmh mang, Đoàn thuyền đánh cá là một phác họa độc đáo :

“Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”

(Huy Cận)

Không là “Nắng chia nửa bãi” , không là “Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư” mà là một bầu trời lồng lộng cao rộng in ráng đỏ xuống mặt biển bao la, là nhịp điệu cuộc sống mạnh mẽ, tấp nập, mặc cho bóng đêm đổ ập vào. Sóng cồn lên nhốt ánh sáng bằng động tác sập cửa nhanh mạnh, dứt khoát. Bóng đêm phủ trùm nhưng con người không bơ vơ, rợn ngợp mà đầy ắp niềm lạc quan yêu đời :

“Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng.”

(Đoàn thuyền đánh cá)

Đó là cách đặt con người ngang tầm vũ trụ, con thuyền là gạch nối để liên kết trời và biển. Nhà thơ khắc tạc không gian đầy sắc màu : lấp lánh của cá song giữa ánh trăng vàng chóe rồi vẩy bạc đuôi vàng, rạng đông …. Đó là những màu tươi sáng của cuộc sống ấm no, của hạnh phúc. Tầm thước con người trở nên rộng lớn, bài thơ là khúc tráng ca về lao động, về tình yêu thiên nhiên, cuộc sống.

Không gian nghệ thuật là mô hình không gian của thế giới nghệ thuật được xây dựng bằng hình tượng ngôn ngữ nghệ thuật để biểu hiện thế giới quan niệm của tác phẩm, là thông điệp của nhà nghệ sĩ. Nhìn lại những tác phẩm của Huy Cận, trước và sau cách mạng vẫn là quan niệm về con người, về vũ trụ trong tầm nhìn của nhà thơ. Nét đặc sắc của Huy Cận vẫn là phong cách thi pháp không gian không thay đổi với thời gian.

Thạc sĩ Nguyễn Văn Thành

Tháng 2/2009

Tư liệu tham khảo :

GS Trần Đình Sử : Dẫn luận thi pháp học

Hoài Thanh – Hoài Chân : Thi nhân Việt Nam

Không gian là một hiện tượng nghệ thuật