Đọc văn bản sau:
…Thế là từ đấy tôi quen chị Thắm. Chị Thắm nhà trong bến Cốc. Nhà chị nghèo lắm. Suốt ngày ở trên con đò ngang, một tấm khăn vuông đen trùm kín mặt.
Có lần tôi hỏi chị Thắm về chuyện trâu đen. Chị bảo:
– Trâu đen có thực! Nó ở dưới nước. Khi nó lên bờ là nó mang cho người ta sức mạnh… Nhưng nhìn thấy nó, được nó ban điều kỳ diệu phải là người tốt.
Tôi tin lời chị. Lòng tôi vẫn hằng ấp ủ trông thấy điều kỳ diệu ấy.
Con người ta tối tăm lắm… Chị nói với tôi khi hai chị em ngồi trên mũi đò chờ khách sang sông. Con người vô tâm nhiều như bụi bặm trên đường.
Tôi nghe chị nói, mắt ngó như nhìn bông gạo thỉnh thoảng lại khẽ khàng buông những cành đỏ thắm trên bãi cát ướt.
Tôi thiu thiu ngủ, văng vẳng lời chị đang kể thủ thỉ sự tích các thánh trên nước Thiên đàng:
– Ngày xửa ngày xưa ở xứ Jerusalem có một con người…
***
Mùa hè năm ấy nhà tôi chuyển về thành phố. Thế là tôi xa bến Cốc, xa chị Thắm. Khi tôi ra đi, chị Thắm gọi tôi xuống đò cho ăn cháo cá. Tôi cũng không ngờ đó là bát cháo cá mòi cuối cùng tôi ăn trong thời trai trẻ. Một cuộc sống mới mở oà trước mặt tôi. Thành phố cũng bán cá mòi nhưng là thứ cá đã được ướp khô, rút ruột.
Tôi cũng chẳng biết tôi hòa cùng với nhịp sống thành phố từ khi nào nữa. Tôi lớn dần lên, hăm hở đuổi theo bao điều phù du. Kỷ niệm về mùa cá mòi và chuyện trâu đen trong thời thơ ấu của tôi phai nhạt dần đi.
Năm ngoái, bỗng nhiên tôi có dịp trở về bến Cốc. Bây giờ tôi đã trưởng thành. Tôi làm công chức ở Sở, lấy vợ, đẻ một đàn con đông đúc. Cuộc sống trưởng giả no đủ bao bọc lấy tôi. Có lẽ tôi cũng chẳng có gì phàn nàn cuộc sống. Ước mơ tuổi trẻ nhường chỗ cho bao nhu cầu thiết thực.
Bến Cốc vẫn hệt như xưa. Cá mòi phơi trắng trên bờ. Bến đò rất ít những người qua lại. Cây gạo vẫn đứng cô đơn chốn cũ, màu hoa rực đỏ xao xuyến bồn chồn. Tôi bước xuống đò mà lòng bồi hồi khôn tả.
Trên đò, một bà cụ già đang ngồi tư lự. Tôi bước lại gần khẽ hỏi:
– Cụ ơi, chị Thắm lái đò còn ở đây không?
– Thắm ư? - Bà cụ thoáng nỗi ngạc nhiên. Tôi đứng lặng người khi nhận ra con đò cũ. Kỷ niệm ấu thơ bồng vụt hiện về.
– Ông quen nhà Thắm ư ông? – Bà cụ hỏi tôi, giọng nói nghẹn ngào
– Bao nhiêu năm nay chẳng hề có ai hỏi thăm nhà Thắm… Nhà Thắm chết đuối hai chục năm rồi!
Tôi oà lên khóc nức nở. Xung quanh sông nước nhoà đi. Bà cụ lái đò vẫn đang rầu rầu kể lể:
– Khốn nạn! nhà Thắm cứu được không biết bao người ở khúc sông này… Thế mà cuối cùng nó lại chết đuối mà không ai cứu…
Bên sông lại vẳng tiếng hát thuở nào tê tái:
“Chảy đi sông ơi
Băn khoăn làm gì?
Rồi sông đãi hết
Anh hùng còn chi?…”
Tôi muốn gào lên chua xót. Tôi bỗng nhiên thấy cuộc sống hiện giờ của tôi vô nghĩa xiết bao. Con trâu đen, con trâu đen trong thời thơ ấu của tôi nay ở đâu rồi?
Bên sông có tiếng gọi đến là ráo riết:
– Đò ơi… ơi đò! Đò ơi! Ơi đò!
(Trích Chảy đi sông ơi – Nguyễn Huy Thiệp)
Đề: Tác phẩm văn học bao giờ cũng là kết quả của quá trình nhà văn khám phá lý giải hiện thực đời sống rồi chuyển hóa những hiểu biết đó vào nội dung tác phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức của con người. Anh chị hãy phân tích nội dung đoạn trích “Chảy đi sông ơi – Nguyễn Huy Thiệp” đồng thời làm rõ nhận định trên.
Bài viết Nguyễn Hương Quỳnh Anh
Lớp 12 chuyên Văn năm học 2026-2027
Mọi dòng sông đều chảy về biển nhưng không phải mọi giá trị đều có thể đi đến bến bờ của sự ghi nhớ. Có những con người dành cả cuộc đời để thắp sáng người khác rồi lặng lẽ chìm vào quên lãng hay có những điều từng thiêng liêng trong tâm hồn lại bị thời gian cuốn trôi giữa dòng đời. Chính ở nơi những mất mát vô hình ấy, văn chương không sinh ra để nhân đôi hiện thực mà để cứu vớt những giá trị đang bị hiện thực bỏ quên, phát hiện trong cái hữu hạn của một số phận cùng những câu hỏi vô hạn về người và đời. Vì thế, mỗi tác phẩm đích thực chính là kết quả của cuộc đối thoại sâu sắc giữa nhà văn với hiện thực. Bàn về vấn đề này, nhận định: “Tác phẩm văn học bao giờ cũng là kết quả của quá trình nhà văn khám phá, lý giải hiện thực đời sống rồi chuyển hóa những hiểu biết đó vào nội dung tác phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức của con người” đã chạm đến bản chất sâu xa của sáng tạo nghệ thuật. Đoạn trích “Chảy đi sông ơi” của Nguyễn Huy Thiệp là một minh chứng giàu sức ám ảnh, khi từ một phận người bình dị bên dòng sông quê, nhà văn gợi lên những suy ngẫm sâu xa về cái thiện, sự lãng quên và những giá trị nhân văn trước dòng chảy của thời gian.
Trước hết, ta hiểu “Khám phá hiện thực” là hành trình người nghệ sĩ đi sâu vào đời sống để phát hiện những vẻ đẹp, quy luật, sự thật còn khuất lấp sau bề mặt của hiện tượng. Tuy nhiên, văn học không dừng lại ở việc phát hiện mà còn hướng đến “lý giải hiện thực”, nghĩa là cắt nghĩa bản chất của những vấn đề đặt ra từ cuộc sống, tìm kiếm ý nghĩa nhân sinh ẩn chứa trong số phận con người và những biến động của thời đại. Trên cơ sở đó, nhà văn chuyển hóa những trải nghiệm, suy tư và nhận thức của mình thành thế giới hình tượng nghệ thuật để hiện thực đời sống được tái hiện không phải như nó vốn có mà như nó được cảm nhận, chiêm nghiệm và soi sáng bởi tư tưởng của người nghệ sĩ. Vậy nên, tác phẩm văn học vừa thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ vừa đáp ứng nhu cầu nhận thức của con người. Như thế, nhận định đã chỉ ra một quy luật cốt lõi của văn học: tác phẩm nghệ thuật không phải là sự sao chép giản đơn hiện thực mà là kết quả của một quá trình nhận thức và sáng tạo đầy công phu của nhà văn. Điều này đã khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa hiện thực đời sống, tư duy nghệ thuật của nhà văn và chức năng nhận thức cao đẹp của văn chương.
Giá trị của một tác phẩm văn học không chỉ được đo bằng khả năng phản ánh đời sống mà còn ở chiều sâu của những khám phá và nhận thức mà nhà văn mang đến cho người đọc. Đến với “Chảy đi sông ơi” của Nguyễn Huy Thiệp, nhà văn đã mở ra những suy tư sâu sắc về vẻ đẹp của lòng nhân ái, về bi kịch của sự lãng quên và về những giá trị tinh thần mà con người dễ đánh mất trên hành trình trưởng thành. Chính những khám phá về hiện thực đời sống cùng sự chuyển hóa tài hoa thành thế giới nghệ thuật giàu sức ám ảnh đã làm nên giá trị nhận thức sâu sắc cho đoạn trích.
Bằng chất liệu “con người và cuộc đời”, Nguyễn Huy Thiệp không tìm kiếm hiện thực ở những biến cố dữ dội mà bắt đầu từ một bến sông quê, một người lái đò vô danh và những hồi ức tưởng chừng đã ngủ yên trong ký ức. Nhưng chính từ những điều bình dị ấy, nhà văn đã khám phá một sự thật bền vững của đời sống - những giá trị làm nên phẩm giá con người thường hiện hữu trong sự âm thầm và chỉ được nhận ra khi chúng đã trở thành mất mát. Hình tượng chị Thắm vì thế không chỉ là một nhân vật mà còn là kết tinh của vẻ đẹp nhân bản. Chị nghèo, lặng lẽ sống trên con đò ngang, kể cho cậu bé nghe truyền thuyết về con trâu đen - sinh thể huyền thoại chỉ ban sức mạnh cho người lương thiện. Song, càng đi sâu vào tác phẩm, người đọc càng nhận ra điều kỳ diệu mà chị kể không tồn tại ở một huyền thoại xa xôi mà hiện hữu ngay trong chính cuộc đời chị. Người phụ nữ vô danh ấy đã lặng lẽ cứu biết bao sinh mạng, trao đi lòng tốt mà không cần được ghi nhớ. Bằng cách để huyền thoại dần nhập vào hiện thực, tác giả đã gửi gắm một phát hiện giàu ý nghĩa nhân sinh rằng điều kỳ diệu lớn nhất của cuộc đời không phải phép màu mà là những con người biết sống vì người khác.
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc phát hiện vẻ đẹp của cái thiện, tác phẩm sẽ chưa đạt tới chiều sâu tư tưởng. Điều làm nên sức nặng của “Chảy đi sông ơi” chính là khả năng lí giải những nghịch lí của đời sống. Chị Thắm cứu biết bao người nhưng cuối cùng lại "chết đuối mà không ai cứu"; hai mươi năm trôi qua, "chẳng hề có ai hỏi thăm nhà Thắm". Nghịch lí ấy không chỉ là bi kịch của một cá nhân mà còn là bi kịch của ký ức con người. Cuộc sống vẫn tiếp diễn, dòng sông vẫn chảy, cây gạo vẫn nở hoa, nhưng thời gian dường như đã cuốn đi cả những ân nghĩa từng nâng đỡ con người. Bài hát "Chảy đi sông ơi/ Băn khoăn làm gì?/ Rồi sông đãi hết/ Anh hùng còn chi..." trở thành tiếng nói triết lí của toàn bộ tác phẩm. Dòng sông không chỉ là dòng nước của thiên nhiên mà còn là dòng chảy của thời gian, nơi mọi vinh quang đều có thể bị bào mòn nếu con người đánh mất lòng biết ơn và ký ức. Qua đó, Nguyễn Huy Thiệp chạm đến một sự thật nhức nhối, điều đáng sợ nhất không phải là cái chết của một con người, mà là cái chết của những giá trị trong tâm thức con người.
Những khám phá ấy được chuyển hóa thành nghệ thuật bằng một kết cấu giàu tính nhận thức. Nhà văn không để nhân vật "tôi" hiểu ra sự thật ngay từ đầu mà để sự thật được hé mở ở điểm kết, biến cuộc trở về quê thành hành trình trở về với chính mình. Khoảnh khắc nhân vật òa khóc không chỉ là nỗi đau trước cái chết của chị Thắm mà còn là sự sụp đổ của một hệ giá trị tưởng đã bị lãng quên. Câu hỏi: "Con trâu đen trong thời thơ ấu của tôi nay ở đâu rồi?" không hướng đến một truyền thuyết mà hướng đến phần tinh khôi nhất của tâm hồn đã bị cuộc sống thực dụng làm phai nhạt. Con trâu đen trở thành biểu tượng của niềm tin vào cái thiện, của những giá trị tinh thần mà con người chỉ nhận ra sự thiêng liêng khi đã vô tình đánh mất. Và tiếng gọi khép lại tác phẩm: "Đò ơi... Ơi đò!" cũng không còn là tiếng gọi sang sông, mà là tiếng gọi của quá khứ vọng về hiện tại, tiếng gọi của lương tri, của ký ức và của những giá trị nhân văn đang dần chìm khuất giữa dòng đời. Bằng hệ thống biểu tượng giàu sức gợi, kết cấu hồi tưởng đan xen hiện tại và tình huống nhận thức giàu kịch tính, Nguyễn Huy Thiệp đã chuyển hóa những suy tư về nhân tính thành một thế giới nghệ thuật nhiều dư ba.
Có thể nói, từ một câu chuyện nhỏ bên bến sông quê, Nguyễn Huy Thiệp đã mở ra những suy tư mang ý nghĩa phổ quát về con người và cuộc đời. Đó là vẻ đẹp của lòng nhân ái, bi kịch của sự lãng quên và khát vọng gìn giữ những giá trị nhân văn trước dòng chảy nghiệt ngã của thời gian. Những khám phá ấy được hóa thân thành hệ thống hình tượng “dòng sông, bến đò, cây gạo đỏ, chị Thắm hay con trâu đen” giàu sức ám ảnh. Chính sự chuyển hóa tài hoa ấy đã giúp hiện thực đời sống bước vào văn chương, đem đến cho người đọc những nhận thức sâu sắc về con người và nhân sinh, qua đó làm sáng tỏ nhận định trên.
Milan Kundera từng khẳng định: “Tiểu thuyết không khám phá hiện thực mà khám phá sự tồn tại.” Quả thật, văn học chưa bao giờ là sự sao chép giản đơn đời sống mà là kết quả của một quá trình nhận thức, khám phá và kiến giải đời sống bằng cái nhìn riêng của người nghệ sĩ. Nếu hiện thực là mỏ quặng vô tận của cuộc sống thì nhà văn chính là người lao động nhọc nhằn đi tìm trong đó những hạt vàng của chân lí và nhân tính. Điều làm nên giá trị của một tác phẩm không phải ở những gì nhà văn nhìn thấy giống mọi người, mà ở những gì nhà văn nhận ra phía sau những điều ai cũng thấy. Từ những số phận cụ thể, những câu chuyện riêng tư, người nghệ sĩ chạm đến những vấn đề mang ý nghĩa phổ quát của con người và cuộc đời. Tuy nhiên, khám phá chỉ là điểm khởi đầu của hành trình sáng tạo. Điều làm nên tầm vóc của một nhà văn còn nằm ở khả năng lí giải hiện thực. Cuộc sống luôn tồn tại như một mê cung của những nghịch lí, những bí ẩn và những câu hỏi chưa có lời đáp. Nhà văn không đứng ngoài để quan sát mà bước vào trung tâm của mê cung ấy, dùng trải nghiệm, tư tưởng và cả những day dứt của mình để cắt nghĩa đời sống. Bởi vậy, như Nguyễn Minh Châu từng quan niệm, nhà văn là “người đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người”. Hành trình đi tìm ấy thực chất là hành trình truy tìm bản chất của cái đẹp, của cái thiện, của những quy luật tinh thần chi phối số phận con người. Văn chương vì thế không chỉ cho ta thấy cuộc đời đang là gì mà còn giúp ta hiểu vì sao cuộc đời lại như thế.
Nhưng nếu những nhận thức ấy chỉ dừng lại ở những mệnh đề triết học thì văn học sẽ đánh mất bản chất nghệ thuật của mình. Tư tưởng của nhà văn chỉ thật sự sống khi nó hóa thân thành hình tượng. Nếu khoa học đi đến chân lí bằng khái niệm thì văn chương đi đến chân lí bằng hình tượng và cảm xúc. Bởi vậy, như Belinski từng khẳng định: “Tư tưởng trong nghệ thuật phải như linh hồn trong cơ thể, không thể nhìn thấy nhưng chi phối toàn bộ sự sống.” Những phát hiện về đời sống không hiện lên dưới dạng những lời giáo huấn khô khan mà được gửi gắm trong số phận nhân vật, trong biểu tượng nghệ thuật, trong những ám ảnh thẩm mĩ có sức ngân vang lâu dài. Đó cũng là lí do một tác phẩm lớn không chỉ làm người đọc hiểu mà còn làm người đọc rung động, không chỉ tác động đến lí trí mà còn thức tỉnh chiều sâu tâm hồn Sâu xa hơn, nhận định còn khẳng định chức năng nhận thức đặc thù của văn học. Đọc một tác phẩm lớn, con người không chỉ bắt gặp hiện thực mà còn bắt gặp chính mình trong hiện thực ấy; không chỉ hiểu người khác mà còn hiểu hơn những miền sâu kín của tâm hồn mình. Đó là lúc văn chương hoàn thành sứ mệnh cao quý nhất của nó: không đơn thuần phản ánh cuộc sống mà soi sáng cuộc sống, không chỉ tái hiện con người mà còn làm cho con người trở nên nhân bản hơn. Bởi thế, tác phẩm văn học chân chính luôn là nơi gặp gỡ giữa hiện thực và tư tưởng, giữa đời sống và nghệ thuật, giữa nhà văn và con người. Giá trị của nó không nằm ở việc kể một câu chuyện đã qua mà ở khả năng mở ra những chân trời nhận thức mới. Và đó cũng chính là lí do vì sao những tác phẩm lớn luôn vượt qua giới hạn của thời đại để sống mãi trong tâm thức nhân loại.
Nhận định không chỉ được soi sáng qua “Chảy đi sông ơi” mà còn tìm thấy tiếng vọng ở nhiều tác phẩm lớn của văn học Việt Nam. Điển hình là tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân. Giữa nạn đói năm 1945, Kim Lân đã khám phá ra hiện thực về sức sống bền bỉ của nhân tính ngay trên ranh giới của sự hủy diệt. Ông không dừng lại ở việc tái hiện một bức tranh đói khát với “người chết như ngả rạ”, tiếng quạ gào, mùi gây của xác người mà đi sâu lí giải khát vọng được sống, được yêu thương và được làm người lại càng bừng dậy mãnh liệt chính khi bị dồn đến bước đường cùng. Bởi thế, tình huống “nhặt vợ” tưởng như nghịch lí lại trở thành phát hiện nghệ thuật độc đáo. Giữa lúc sự sống mong manh nhất, một mái ấm gia đình vẫn được hình thành; giữa cái chết đang bủa vây, con người vẫn dang tay cưu mang nhau bằng lòng nhân ái. Qua hình tượng Tràng, người “vợ nhặt”, bà cụ Tứ và đặc biệt là hình ảnh nồi cháo cám cùng lá cờ đỏ cuối tác phẩm, Kim Lân đã chuyển hóa những chiêm nghiệm về con người thành hệ thống hình tượng giàu sức gợi. Nhà văn đã phát hiện ánh sáng của tình người, niềm tin và khát vọng hướng tới tương lai trong hiện thực đen tối. Điều đó cho thấy văn học chân chính không dừng lại ở việc mô tả cuộc sống như nó vốn có mà còn khám phá những giá trị tinh thần ẩn sâu trong cuộc sống; từ đó, mở rộng nhận thức của con người về bản chất và sức mạnh của chính con người.
Qua thành công của “Chảy đi sông ơi”, có thể khẳng định rằng hành trình của văn chương suy cho cùng là hành trình đi từ cái nhìn đến sự thấu hiểu, từ hiện thực đến chân lí. Nếu đời sống cung cấp chất liệu cho nghệ thuật thì chiều sâu tư tưởng của người nghệ sĩ mới là yếu tố làm nên giá trị của tác phẩm. Chính quá trình khám phá, lí giải và chuyển hóa hiện thực đã giúp văn học vượt lên khỏi chức năng phản ánh để trở thành một hình thái nhận thức đặc biệt. Khi ấy cũng là lúc văn học, ở ý nghĩa cao đẹp nhất, chính là hành trình không ngừng tìm kiếm những sự thật của con người mà hiện thực chưa kịp gọi thành tên. Và có lẽ, sức sống lâu bền của một tác phẩm không nằm ở những gì nó kể về cuộc đời, mà nằm ở những gì nó khiến con người trăn trở về cuộc đời sau khi trang sách đã khép lại.
Từ dòng sông của Nguyễn Huy Thiệp, người đọc nhận ra rằng hành trình của văn chương cũng chính là hành trình đi tìm những sự thật ẩn sâu trong đời sống và trong tâm hồn con người. Bởi vậy, nhận định không chỉ là một quan niệm về sáng tạo nghệ thuật mà còn là lời khẳng định về sứ mệnh của văn học: biến những trải nghiệm hữu hạn của cuộc đời thành những giá trị tinh thần có khả năng vượt qua thời gian. Điều đó đòi hỏi người nghệ sĩ phải luôn giữ cho mình đôi mắt biết nhìn xa hơn cái bề mặt của hiện thực và một trái tim đủ nhạy cảm trước những nỗi đau, niềm vui của con người. Về phía người đọc, đọc văn chương không phải để biết thêm một câu chuyện, mà để sống thêm một cuộc đời, hiểu thêm một kiếp người và nhận ra phần sâu thẳm nhất của chính mình. Có lẽ vì thế, “một tác phẩm chân chính không bao giờ kết thúc ở trang cuối cùng" (Aitmatov).
Nguyễn Hương Quỳnh Anh