Nhà văn Puskin từng viết: “Linh hồn là ấn tượng của một tác phẩm. Cây cỏ sống được là nhờ ánh sáng, chim muông sống được là nhờ tiếng ca, một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng của người cầm bút”
Nguyễn Phùng Gia Hưng
(Học sinh giỏi Văn thành phố khối 12 năm học 2025-2026)
Trong khu vườn địa đàng của ngôn từ, nơi những thanh âm trong trẻo nhất của cuộc đời được kết tinh thành những dòng mực đen, ta bắt gặp bước chân của những người nghệ sĩ lặng lẽ đi gom nhặt từng mảnh vỡ của nỗi đau và niềm hạnh phúc. Họ không chỉ viết bằng đôi tay, mà viết bằng chính sự rung động thổn thức của một trái tim biết yêu, biết đau cùng nhân thế. Văn chương, vì lẽ đó, không bao giờ là những con chữ vô tri nằm im lìm trên trang giấy trắng, mà là một thực thể sống mang trong mình nhịp đập phập phồng của sự sống. Nói như đại thi hào Puskin: “Linh hồn là ấn tượng của một tác phẩm. Cây cỏ sống được là nhờ ánh sáng, chim muông sống được là nhờ tiếng ca, một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng của người cầm bút.” Phải chăng, chính cái 'tiếng lòng' cháy bỏng ấy đã trở thành sợi dây vô hình kết nối triệu triệu tâm hồn, biến những trang sách trở thành bến đỗ bình yên cho những phận đời cùng khổ ?
Đại thi hào Puskin đã rất tinh tế khi mượn những quy luật tất yếu của tự nhiên để hình tượng hóa sức sống của một tác phẩm nghệ thuật. Tại sao lại là "ánh sáng" và "tiếng ca" ? Ta biết rằng, ánh sáng là ngọn nguồn của sinh tồn, là dưỡng chất vô hình giúp cây cỏ quang hợp, vươn mình đâm chồi nảy lộc hướng về phía mặt trời. Thiếu ánh sáng, vạn vật chỉ còn là cõi tăm tối, lụi tàn. Trong khi đó, tiếng ca lại là bản năng, là phương thức giao cảm và là minh chứng cho sự tồn tại đầy kiêu hãnh của loài chim giữa không gian bao la. Từ những lẽ tự nhiên không thể thay thế ấy, Puskin đi đến một khẳng định mang tính chân lý: "Một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng của người cầm bút". Nếu ánh sáng và tiếng ca là điều kiện tiên quyết để thiên nhiên sinh tồn, thì "tiếng lòng" – những rung động mãnh liệt, những trăn trở, xót xa hay niềm hân hoan tột độ của nhà văn – chính là thứ ánh sáng rực rỡ nhất, là bản nhạc du dương nhất để bơm máu cho những con chữ vô tri. Một tác phẩm thiếu đi nhịp đập của trái tim người viết thì dẫu kỹ thuật ngôn từ có điêu luyện đến đâu, nó cũng chỉ là một bức bình phong lộng lẫy nhưng vô hồn.
Tề Bạch Thạch từng nhận định rằng: “Văn học vừa giống cuộc đời vừa không giống cuộc đời. Nếu nó quá giống cuộc đời thì đó là nghệ thuật mị đời. Còn nếu không giống cuộc đời thì đó là nghệ thuật dối đời”. Hay Nguyễn Đình Thi cũng từng nói rằng: “Tác phẩm nghệ thuật là một hình ảnh thực tại, nhưng đó là hình ảnh có linh hồn mà chính cái linh hồn mới làm cho tác phẩm sống. Nghĩa là dù trải qua thời gian vẫn gây được xúc động trong lòng người”. Cùng đều là ghi chép lại những khung hình cuộc sống. Nhưng tác phẩm văn học không phải là một bức ảnh khô cứng, vô hồn - mà đó là tiếng vọng của cuộc sống, của khát vọng, của tình yêu trong tận cùng thời gian. Mỗi nhà văn khi tạo ra một tác phẩm đều chứa chan tiếng nói của mình trong đó. Chứa đựng phần mảnh linh hồn của họ thông qua câu chuyện hay các nhân vật. Từ đó truyền tải tới người đọc những thông điệp tuyệt vời đầy ý nghĩa. “Tôi mong muốn những tác phẩm của tôi sẽ làm cho con người tốt hơn, tâm hồn trong sạch hơn, thức tỉnh tình yêu đối với con người và khát vọng tích cực đấu tranh cho lí tưởng nhân đạo và tiến bộ của loài người” (Sô-lô-khốp). Và chính linh hồn trong tác phẩm sẽ thực hiện những nhiệm vụ ấy. Nếu tác phẩm được sinh ra từ thực tại và về với cuộc sống, thì nó sẽ đạt được những giá trị bền vững: giá trị nhân đạo, giá trị nhận thức, giá trị giáo dục và giá trị thẩm mỹ. Tổng hợp những điều ấy, đều là mong muốn gửi “hạt bụi vàng” của các tác giả vào lòng bạn đọc.
“Mỗi bài thơ mà hôm nay tôi trao vào tay bạn đọc thân mến là nảy sinh cùng với mầm mống trên cái cây xao động của cuộc đời đang nở hoa. Coi thường quyển sách này sẽ là tàn nhẫn bởi vì nó gắn liền khăng khít với bản thân cuộc đời tôi” (Lorca). Nhà thơ Hồ Xuân Hương – linh hồn của những người phụ nữ, từ lâu bà đã được biết đến là người đấu tranh đòi lại quyền được sống của thân phận đàn bà trong xã hội phong kiến. Các tác phẩm của bà là tiếng lòng của những số phận bị chèn ép, bị định đoạt “tam tòng tứ đức” của phụ nữ:
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.”
(Bánh trôi nước)
Phải chăng linh hồn mà bà muốn truyền tải cho người đọc là thân phận hẩm hiu của người đàn bà như một cái bánh, sống lay sống lắt, trôi nổi theo dòng đời mà không thể tự định đoạt. Đâu phải tự nhiên trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ Nguyễn Du lại dùng nàng Kiều trong tác phẩm Truyện Kiều để nói lên thân phận người con gái ? Cả hai nhà thơ đều là những con người đi trước thời đại, công bằng, dám đứng lên đòi lại quyền bình đẳng trong thời kỳ Nho giáo, nơi mà "trọng nam khinh nữ" được coi là một lẽ thường tình.
"Tác giả tôi không sống trên ngọn hải đăng tỏa ánh sáng trong sạch phát hiện cái dơ bẩn ở quanh mình, để rồi khi sáng ngời lên vì trong sạch anh ta lên tiếng mắng chửi cái dơ bẩn ấy. Tác giả tôi sống trên đất đã làm nên anh ta, đau nỗi đau của đất đã làm nên anh ta" (Henrich Boll). Trong tác phẩm "Lão Hạc" của nhà văn Nam Cao, ta lại thấy được linh hồn của những người nông dân cực khổ, những con người bị đày đọa tới bước đường cùng. Viết về bi kịch của người nông dân, Nam Cao viết rất chân thực, sinh động, đẩy cái bi kịch ấy lên tột cùng: "Kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn". Nhưng liệu cái kiếp người ấy có sướng không ? Hay chỉ là một vòng tuần hoàn đầy đau khổ và bất lực ? Từ đây, ta thấy được những khổ đau của nhân vật - linh hồn tượng trưng của nhân dân. Phải có tấm lòng sâu sắc, nhà văn mới viết được như vậy. Hay trong Dòng nhớ của Nguyễn Ngọc Tư, ta cũng thấy được những linh hồn đầy trớ trêu trong cuộc sống. Nhưng cái linh hồn rực rỡ, giá trị nhất lại là linh hồn đầy tính cao thượng của "người mẹ". Dẫu bà không được chồng yêu thương, nhưng không vì vậy mà bà tuyệt vọng. Bà vẫn luôn mong, nếu bản thân không có hạnh phúc, thì ít nhất bà cũng phải làm cho người khác được hạnh phúc toại nguyện: "... Rồi thì ba tôi cũng mỏi mòn nằm xuống trên mảnh vườn của nội tôi, bình yên. Má tôi vẫn không ngừng tìm kiếm dì, hỏi để làm gì, má tôi nói để cho dì hay và nói với dì, nếu sống mà không gần được chừng nào chết, mời dì lên nằm trên đất vườn tôi.
Ðó là nỗ lực cuối cùng má tôi làm để chấm dứt cái cảnh ba nằm bên má mà hồn vẫn hướng về những dòng sông miên man chảy.” (Nguyễn Ngọc Tư – Dòng nhớ)
“Văn học thực chất là cuộc đời. Văn học sẽ không là gì cả nếu không vì cuộc đời mà có.” (Tố Hữu). Người sót lại của rừng cười - Võ Thị Hảo, cho ta thấy linh hồn đau khổ mà chiến tranh mang lại cho những người lính. Không phải là một cuộc sống màu hồng, được mọi người tuyên dương chiến tích như ta hay được nghe kể, mà là những di chứng đầy ám ảnh, số phận khắc nghiệt, và cuộc đời không "như là mơ" mà nhân vật Thảo đã trải qua. Nhưng dẫu vậy, Thảo sau cùng vẫn giữ được tấm lòng cao thượng của mình, không bị đày đọa tới phát điên như mọi người xung quanh nghĩ về cô. Cũng giống như câu hát của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn "Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không ? Để gió cuốn đi". Hay trong Nếp sống của nhà văn Nguyễn Khải. Ta lại thấy được linh hồn đầy tính truyền thống của những người dân Hà Nội. Thông qua nhân vật “bà cô tôi”, từ đó Nguyễn Khải tuyên truyền, lan tỏa văn hóa, truyền thống nghiêm nghị nhưng cũng có phần hiện đại của nhân dân Thủ đô hoa lệ.
Sau cùng "Điều quan trọng hơn hết trong sự nghiệp của những nhà văn vĩ đại ấy là cuộc sống - trường đại học chân chính của thiên tài. Họ đã biết đời sống xã hội của thời đại, đã cảm thấy sâu sắc mọi đau đớn của con người trong thời đại, đã rung động tận đáy lòng tâm hồn với những nỗi lo âu bực bội tủi hổ và những ước mơ mong tha thiết nhất của loài người. Đó chính là cái hơi thở cái sức sống của những tác phẩm vĩ đại" (Đặng Thai Mai). Một tác phẩm hay, là một tác phẩm có nghệ thuật, sinh ra từ cuộc sống, và quan trọng nhất là có cái linh hồn của riêng mình. Mỗi tác giả, mỗi nhà văn đều chứa đựng phong cách đầy riêng biệt. Linh hồn của người phụ nữ - Hồ Xuân Hương, linh hồn của nông dân, của xã hội phê phán - Nam Cao, hay linh hồn đầy mơ mộng, khó hiểu của Lưu Trọng Lư và linh hồn đầy lãng mạn của Xuân Quỳnh, Xuân Diệu,... Mỗi cá nhân lại có điểm mạnh cho riêng mình. Nhưng điểm chung của họ đều là mong muốn phục vụ cho nhân dân, “nâng giấc” cho những những người lầm đường lạc lối. Mong muốn một xã hội ngày càng phát triển, giàu tinh thần lẫn vật chất hơn.
Dẫu rằng, có nhiều tác phẩm đã trôi qua cả thập kỷ, thế kỷ, hay thậm chí là hơn nửa thiên niên kỷ như Bình Ngô đại cáo nhưng tới bây giờ vẫn được mọi người nhớ rõ. Thời gian như một bài kiểm tra dành cho những tác phẩm, một số rơi vào quên lãng và một số được nhớ đến trong tiềm thức của mỗi người. Và những tác phẩm được nhớ đến chính là những “cơ thể có linh hồn” sinh ra vì nhân dân, vì cuộc đời, và nhà văn đã thành công trong việc nói ra tiếng lòng của mình. Như câu nói “Linh hồn là ấn tượng của một tác phẩm Cây cỏ sống được là nhờ ánh sáng, chim muông sống được là nhờ tiếng ca, một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng của người cầm bút” (Puskin).
Nguyễn Phùng Gia Hưng