Lời người bên sông
Lê Bá Dương
Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm.
Đề: A/c hãy phân tích bài thơ “Lời người bên sông – Lê Bá Đương” đồng thời làm rõ nhận định: “Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến xung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, toả ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy. Sức mạnh nhất của câu thơ là sức gợi ấy.” (Mấy ý nghĩ về thơ, sách Ngữ văn 12 Nâng cao, tập 1, tr.52, NXBGD, 2008).
Bài làm
Đinh Ngọc Quỳnh Anh
Thơ ca từ bao đời nay vẫn luôn là thứ kì diệu của ngôn từ. Nó không phải là những con chữ nằm im trên trang giấy trắng mà là thứ ngôn ngữ có thể “co giãn” vô hạn về cả không gian lẫn thời gian. Bản chất của ngôn ngữ thơ ca không nằm ở bề nổi của câu chữ mà ở những khoảng trắng, những độ nhoè mờ đầy sức gợi. Có nhận định rằng: “Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến xung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, toả ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy. Sức mạnh nhất của câu thơ là sức gợi ấy.” Trong dòng chảy văn học Cách mạng Việt Nam, bài thơ tứ tuyệt đầy nghẹn ngào “Lời người bên sông” của Lê Bá Dương là một minh chứng cho sức gợi ấy.
Nhận định trên đã chạm đến bản chất của ngôn ngữ thơ ca là tính hàm súc và khả năng khơi gợi. Ở đời sống thực, từ ngữ thường được dùng để gọi tên sự vật hay hiện tượng một cách rõ ràng, cố định và giới hạn. Nhưng khi bước vào thế giới thơ ca, từ ngữ như có thêm một quyền năng mới. Tác giả đã sử dụng cụm từ rất mạnh “tự phá tung mở rộng ra” để diễn tả sự giải phóng năng lượng của chữ nghĩa. Điều này gợi nhắc chung ta về quan điểm của Mallarmé một nhà thơ người pháp: “Thơ là một cấu trúc lấp lánh những khoảng trống”. Một chữ trong thơ nó không còn cô độc mà nó liên kết đánh thức cả một hệ thống kí ức, trải nghiệm và cảm xúc của người đọc. “Vùng ánh sáng động đậy” chính là thế giới tinh thần, sự đồng điệu hay những suy nghĩ sâu xa mà câu thơ đã thắp lên trong lòng độc giả. Cũng từ đó mà giá trị lớn nhất của thơ ca là “sức gợi”, bởi một bài thơ không thể nói hết mọi điều, nó mở ra những khoảng trống để người đọc tự điền vào bằng chính tâm tư tình cảm của riêng mình.
Tuy bài thơ “Lời người bên sông” chỉ có vỏn vẹn bốn câu nhưng lại mang sức chứa rộng lớn bằng cả một thời kì lịch sử bi tráng và sự biết ơn khôn nguôi của một dân tộc:
“Đò lên Thạch Hãn ơi...chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm.”
Đúng như một nhận định lý luận nổi tiếng: “Thơ là thể loại văn học đúc cốt tinh, lấy ít chữ nói nhiều tình”. Ngay từ câu thơ đầu tiên, “sức gợi” đã được khơi lên từ một tiếng gọi và một hành động tưởng chừng rất đỗi bình thường: “Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ”. Nếu xét về nghĩa thực, đây dường như là lời nhắn nhủ, dặn dò những người lái đò trên sông Thạch Hãn hãy điều khiển mái chèo thật êm, thật nhẹ. Thế nhưng, dấu “...” đặt ngay sau từ “ơi” kéo dài như một tiếng nấc nghẹn, một thanh âm vang vọng. Nhưng tại sao lại phải “chèo nhẹ”? Câu thơ như phá tan lớp nghĩa thông thường để gợi lên sự cẩn trọng, thành kính, thiêng liêng. Người cựu chiến binh đã nâng niu từng dòng nước, sợ tiếng khua mái chèo quá mạnh sẽ làm đau, làm những người đồng đội tỉnh giấc. Lúc này, con sông đã không còn là một vị trí địa lý thông thường, mà nó đã biến thành một nghĩa trang không mộ, một dòng chảy linh thiêng và đầy mặc niệm.
Sức gợi ấy tiếp tục được đẩy lên đỉnh điểm ở câu thơ thứ hai làm phơi bày một hiện thực khốc liệt: “Đáy sông còn đó bạn tôi nằm”. Tác giả đã tạo nên một sự đối lập, sự tương phản giữa cái động trên mặt nước, nơi những con đò vẫn ngược xuôi dòng với cái lặng vĩnh hằng ở “đáy sông”. Cụm từ “bạn tôi nằm” nghe nhẹ nhàng, thanh thản như một giấc ngủ bình yên sau một chuỗi ngày mệt mỏi. Nhưng sau bên trong ấy là một vùng kí ức chói chang và đau thương về chiến dịch 81 ngày đêm ở thành cổ Quảng Trị. Dưới dòng sông ấy là máu, là xương thịt của những người chiến sĩ đã ngã xuống ở độ tuổi còn đầy khát khao, hoài bão. Chữ “nằm” ở đây không thể hiện cái chết bi luỵ mà nó gợi lên sự bất tử, các anh vẫn ở đó, vẫn song hành cùng quê hương đất nước.
Nếu hai câu thơ đầu là sự kìm nén nỗi đau thì hai câu thơ cuối chính là sự “phá tung” và “thăng hoa” của cảm xúc, nơi mở ra vùng ánh sáng của sự tri ân:
“Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm.”
Hình ảnh “tuổi hai mươi” là một hoán dụ xuất sắc, gợi lên tuổi trẻ, thanh xuân, có ước mơ, có sự hoài bão, có tình yêu đôi lứa và có cả tình yêu gia đình. Khi “tuổi hai mươi thành sóng nước”, câu thơ đã không còn bị gò bó trong ý nghĩa của sự bi luỵ mà nó đã trở nên kỳ vĩ hơn. Các anh không mất đi, thân xác đã hoà cùng dòng sông Thạch Hãn, tan vào phù sa của đất mẹ dể vỗ về bờ cõi. Cụm từ “vỗ yên bờ” đã mang lại sức gợi vô cùng lớn: lúc sinh thời, các anh đã cầm súng giành lại sự bình yên cho bờ cõi đất nước, đến khi hi sinh các anh lại hoá thành sóng để tiếp tục “vỗ yên” cho đất mẹ đến “mãi mãi ngàn năm”. Từ một bi kịch lịch sử, câu thơ đã thắp lên “vùng ánh sáng động đậy” của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, biến cái bi thương thành cái tráng lệ, biến cái hữu hạn của đời người thành cái vô hạn của dòng sông chảy mãi.
Để thấy rõ sức gợi là linh hồn của thơ ca chân chính, ta có thể đặt tác phẩm của Lê Bá Dương cạnh những vần thơ có cùng đề tài về người lính. Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết: “Thơ là một điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu”, khi lật mở những trang thơ trong thời kháng chiến, ta bắt gặp sự đồng điệu ấy ở những ngôn từ đầy sức gợi. Trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng cũng viết lên sự hi sinh đầy kiêu hãnh của người lính:
“Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.”
Hai chữ “về đất” đã phá tung ý nghĩa của cái chết, nó gợi lên một cái kết nhẹ nhàng, thanh thản hơn. Người lính Tây Tiến sau khi hoàn thành nhiệm vụ cao cả ấy đã trở về trong vòng tay của đất mẹ thiêng liêng. Hành động “gầm lên” của sông Mã không đơn thuần là âm thanh của thiên nhiên, nó như gợi lên tiếng súng đại bác vừa tráng lệ, vừa đau thương nhưng đầy kiêu hùng để tiễn đưa những người lính. Sự tương đồng trong sức gợi của tác phẩm là khả năng biến cái chết thành sự sống, biến những hi sinh thầm lặng thành bệ đỡ vững chắc cho cánh chim tự do của dân tộc.
Có thể thấy, bài “Lời người bên sông” đã đạt sức gợi rất lớn nhờ vào thể thơ tứ tuyệt, nghệ thuật nén cảm xúc và ngòi bút tài hoa của cựu chiến binh Lê Bá Dương. Tác giả đã không sử dụng những mỹ từ, ông chỉ gọi tên và kể một sự vật bằng một tâm thế đơn giản nhất, nhưng cũng chính vì điều ấy đã tạo ra không gian tối đa nhất cho sự liên tưởng của độc giả. Từ đó, nhận định trong sách Ngữ văn 12 là vô cùng đúng đắn, nó không chỉ là sự quan tâm của người nghệ sĩ mà còn là lời nhắc nhở cho những người tiếp nhận văn học. Ta không chỉ nên dừng lại ở việc đọc các câu chữ, mà phải dùng sự liên tưởng, sự thấu cảm của bản thân để hiểu được hình ảnh gợi lên qua các tác phẩm.
Tóm lại, bài thơ “Lời người bên sông” của Lê Bá Dưỡng xứng đáng được coi là một tượng đài bằng thơ. Ông đã biến những đau thương lịch sử thành giá trị sống trường tồn với thời gian. Sức mạnh của bốn câu thơ không nằm trên giấy mà nằm ở nỗi nghẹn ngào của độc giả khi đứng trước một dòng sông, một chứng tích lịch sử. “Sức gợi” chính là vũ khí tối thượng của thơ ca, vũ khí “mạnh nhất” giúp thơ ca vượt qua những quy luật đào thải nghiêm ngặt để sống mãi ngàn năm.
Đinh Ngọc Quỳnh Anh
Lớp 12A4