CHÙM THƠ TRI ÂN NHỮNG ANH HÙNG LIỆT SĨ
Triệu Kim Loan
Thơ ca là tiếng nói của cảm xúc được giải mã bằng con chữ. Hầu hết những bài thơ của các nhà giáo được nhận xét là nghiêm cẩn khi sử dụng từ ngữ, lời thơ dung dị, dễ hiểu, ít làm xiếc về câu chữ, thường dịu dàng và đằm thắm.
Trong cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Việt Nam, chúng ta cùng hoài niệm những tháng năm những người lính, những thầy giáo, cô giáo đã dâng hiến tuổi xuân, sức lực, trí tuệ vì sự tồn vong của đất nước và sự nghiệp giáo dục cao quý.
Trong buổi sinh hoạt của CLB Thơ ca Cựu Giáo chức Gò Vấp, kết hợp với Hội thơ Sao Khuê hôm nay, xin được đi sâu, giới thiệu chùm thơ Tri ân về các anh hùng liệt sĩ. Chùm thơ gồm 29 bài của 14 tác giả, hầu hết là các hội viên của hai hội thơ từng ít nhiều gắn bó, hợp tác trong nhiều chuyên đề thơ ca thú vị.
Điểm nổi bật của chùm thơ chính là tiếng nói tri ân trước tinh thần dũng cảm, quên mình vì Tổ quốc của những anh hùng, liệt sĩ. Nhiều bài thơ được viết bằng cảm xúc của người trong cuộc, vừa nóng hổi tính thời sự, vừa cảm động bởi mỗi vần thơ được viết bằng mồ hôi, nước mắt và dòng máu của trái tim đầy trách nhiệm của người chiến sĩ - thi sĩ: “Nghi ngút hương thơm rừng nến sáng ngời / Các anh nằm đây để tuổi tên thành bất tử” (Những ngọn nến Trường Sơn, Nguyễn Khắc Thắng), “Anh trở về trong ngàn hoa trắng nở / Nơi tuổi thơ cùng khóm trúc, bờ tre / Có đám bạn tắm mát những trưa hè / Có mẹ già tựa cửa mãi ngóng trông” (Tháng bảy đón các anh về, Trinh Trinh).
Đọc một số bài thơ của Nhà thơ Hoàng Thạch: “Hầm phẫu thuật”, “Câu thơ trên nạng gỗ”, “Miền hoa dại”, người đọc không khỏi rơi nước mắt vì xúc động. Đó là khung cảnh chiến trường khốc liệt, trang thiết bị y tế thiếu thốn, phải cưa sống chân, tay để giữ lại mạng sống cho đồng đội:
“Tao phải cắt đi trước phút giao thừa
Tao không khóc mà nước mắt như mưa
Dưới tấm drap hàm răng mày nghiến chặt
Mê không đủ tim tao đau thắt
Chiến tranh là vậy đó …Hưng* ơi…”
(Câu thơ trên nạng gỗ, Hoàng Thạch)
Những bác sĩ đêm ngày túc trực, ăn đói, mặc rét nhưng đầy tinh thần trách nhiệm và cao nhất chính là tình đồng đội trước lằn gianh sinh tử:
“Căn hầm lặng im, lòng đất
Chỉ có tiếng động kéo dao
Máy phát điện lao xao
Những bàn tay đi găng vồi vội
(…)
Những cáng thương đặt vội bên thềm
Đèn mổ lúc nào cũng sáng
Có người đến gắp xong mảnh đạn
Lại xách súng ra đi
(…)
Hôm nay trở lại cánh rừng
Tìm lại vết tích của căn hầm cũ
Nhang mang theo làm sao thắp đủ
Cho bạn tôi ở lại, chẳng quay về…
(Hầm phẫu thuật, Hoàng Thạch)
Chiến tranh là đau thương, là tàn khốc và đầy bi kịch, khi cha con, chồng vợ ở hai bên chiến tuyến. Bài thơ về cánh tay người thương binh của Nguyễn Khắc Thắng là một vết cắt đớn đau của chiến tranh:
“Một cánh tay còn nguyên
Cánh tay kia cắt cụt
Bởi đạn bom ác liệt
Và tấm lòng vị tha nhân ái của người lính phía bên kia chiến tuyến
…
Họ gặp nhau
Chính nơi xưa kia bom rơi, đạn xối
Tay bắt mặt mừng
Hai người lính
Hai phương trời, xã hội khác nhau
Đã một thời xung đột
Họ tâm sự với nhau rằng:
Giá ngày ấy không gặp ảnh
Thì tay tôi đâu có cụt
Giá ngày ấy tôi không cắt tay anh
Thì làm sao anh còn sống”.
Nguyễn Khắc Thắng
Điểm nhấn của chùm thơ tri ân các anh hùng liệt sĩ đều xoáy sâu, khai thác nỗi đau của những người mẹ mất con, người vợ mất chồng:
“Chờ con sương phủ trắng đầu
Hồn con thương mẹ nơi đâu nhắn về
Mưa chiều tràn đáy mắt quê
Mong ngày...được đón con về...mẹ mong”
(Mẹ mong, Nguyễn Trường Thanh)
“Buổi chiều nay chẳng thấy đứa nào về.
Khói hương quyện với khăn tang
Mâm cơm mẹ đợi nghẹn đau khóc thầm
Về đi - về đây hỡi các con !
Về đây cùng mẹ bữa cơm mỗi ngày”.
“Mấy đứa đâu rồi !
Sao không về với mẹ ?
Để cùng ăn cho xong buổi cơm chiều
Mới hôm qua, chúng mày đông đủ cả
Mà hôm nay - để mẹ đợi cả ngày.”
(Khấn mẹ, Quyền Dương Tử)
“Chiều hàng dương bia mộ gọi thanh xuân
Có phải con về trong sương chiều bảng lảng
Có phải con về đôi mắt tròn ấm sáng
Mẹ vẫn chờ nơi ngút ngát - Hàng Dương…”
(Chiều Côn Đảo, Triệu Kim Loan)
Những người vợ trẻ mất chồng trong chiến tranh là hiện thực đa chiều được nhiều nhà thơ khai thác. Nhiều người nước ngoài, họ không thể tin, phụ nữ Việt Nam lại có sự hi sinh thầm lặng cao quý đến vậy:
“Nước mắt đọng trong lúm đồng tiền một thời son trẻ
Giờ cạn khô hóa vết đồi mồi
Người đàn bà đợi chồng
Hàng đêm
Hóa đá”
(Đợi anh, Triệu Kim Loan)
“Trăng bao mùa hao khuyết, chị đợi chồng đếm ngược hoàng hôn. Bãi cát rộng, từng con sóng cứ xô rồi vỡ. Mộ gió lặng im, rặng phi lao nghẹn ngào kể chuyện.
Ngày ấy, anh lên đường ra trận. Nắng thêu xanh tê tái lá bàng, hoa muống tím, lệ đẫm nhoà lá cỏ. Biển hiền lắm, trong veo như tình người vợ trẻ.
Anh không về, đau những mùa thương, tủi buồn hương biển. Năm 1972, đồng đội phản công, trận quyết tử trên boong tàu vụn vỡ. Sóng ngầu đỏ gầm lên, từng lớp san hô phong kín hình hài người con làng biển.
Bao mùa trôi, bão giông, biển lặng. Mộ gió mỗi chiều, nhang trầm vẫn đỏ. Biển mù sương, lãng đãng như quen, như lạ. Có phải anh về hay giấc mơ đêm?
(Có phải anh về, Triệu Kim Loan)
Tình yêu của người lính trẻ là những nốt nhạc, vầng trăng trong trẻo, thánh thiện được các nhà thơ khắc họa giàu thi ảnh:
“Chiến tranh đến anh lại theo ngọn gió
Vượt Trường Sơn trong những đoàn quân
Em ở lại, bờ đê hoa dại nở
Tỏa hương buồn nhung nhớ bâng khuâng
Ngày gặp lại con đò bến đợi
Hoa vẫn đây bước chân bỗng vương buồn
Có đứa bé hái hoa dâng người mẹ
Muộn mất rồi . . .
Một chiều tím sắc buông…”
(Miền hoa dại, Hoàng Thạch)
Câu chuyện tình yêu lãng mạn của một người lính lái xe và một cô thanh niên xung phong giữa tuyến lửa Trường Sơn. Họ yêu nhau trong một lần gặp gỡ, nụ hôn trao vội như một xác tín và hẹn ngày gặp lại:
“Anh đi vào tuyến lửa
Cơm nắm, rau rừng, triền miên sốt rét
Bên chiếc vô lăng- những đêm thiếu ngủ
Rốc két, đạn cày, bom xăng cháy đỏ
Luồn lách đường mòn, thi gan, bám trụ
Anh vẫn neo thầm một góc nhớ không tên
Cô gái Hà Thành
Bím tóc xinh xinh
Đôi mắt sáng, nụ cười giếng ngọc.”
30-4-1975, đất nước thống nhất, người lính trở và đau đớn khi cô không còn nữa: lại tìm cô gái:
“Ngày trở lại tìm em
Vẫn tán cây rừng soi nghiêng. Thêm một hố bom…
Nơi em nằm lại…
Tiếng súng đã ngừng sao lòng buốt nhói
Lỡ hẹn em rồi. Mình về Hà Nội…
Em ở đây
Tuổi hai mươi cùng cỏ hoa rực nắng
Cho núi rừng, cho Tổ quốc linh thiêng
Xanh màu xanh
Bất tử.
(Tìm em ngày thống nhất, Triệu Kim Loan)
Cùng viết về hình tượng những anh hùng, liệt sĩ nhưng 29 bài thơ đều có cách thể hiện cảm xúc, cấu tứ, thể loại khác nhau. Một số bài thơ viết theo thể lục bát truyền thống, ngôn từ giản dị, uyển chuyển. Một số bài viết theo thể thơ 7 chữ, 8 chữ, thơ tự do, thơ văn xuôi…, tất cả tạo nên sự đa dạng và thú vị, thu hút sự chú ý của bạn đọc.
Mỗi nhà giáo, dù đã rời xa bục giảng nhưng tâm hồn và trí tuệ vẫn tỏa sáng và mong muốn được cống hiến cho đời. Rất mong, mỗi nhà giáo, nhà thơ của chúng ta là mỗi ngọn nến thắp sáng niềm tin, thắp sáng cái đẹp của văn hóa, hồn cốt của dân tộc qua từng con chữ, từng bài thơ, khúc nhạc. Xin trân trọng cảm ơn sự đóng góp tích cựa của 14 nhà thơ Hội thơ Sao Khuê và Câu lạc bộ Cựu Giáo chức Gò Vấp.
TP. HCM, 22/8/2026
Triệu Kim Loan